Tôn giáo với cuộc chiến phòng, chống HIV/AIDS

Người đăng bài viết: admin Đăng lúc: Thứ bảy - 15/06/2013 03:20

Trong việc đương đầu với  HIV/AIDS nhiều tôn giáo đã thể hiện sự đáp ứng  trên cả ba lĩnh vực : dự phòng, chăm sóc - hỗ trợ và điều trị rất tích cực.
 

Khẳng định vai trò quan trọng của tôn giáo trong phòng, chống HIV/AIDS

 

Vai trò của nhân tố tôn giáo được khoá họp đặc biệt lần thứ 21 Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc xác nhận trong bản “Tuyên bố cam kết về HIV/AIDS”. Tại Điểm 20 của “Tuyên bố cam kết về HIV/AIDS” khẳng định: “Nhấn mạnh tầm quan trọng của các yếu tố văn hoá, gia đình, đạo đức và tôn giáo trong việc ngăn ngừa bệnh dịch và trong công tác điều trị, chăm sóc và hỗ trợ, có tính đến tình hình cụ thể cuả mỗi nước cũng như tầm quan trọng của việc tôn trọng tất cả các quyền con người và các quyền tự do cơ bản”.


Truyền thông PC HIV/AIDS của Phật giáo tại TP HCM


Luật phòng chống HIV/AIDS  của nước ta coi trọng việc xã hội hoá công tác phòng chống HIV/AIDS. và coi các yếu tố dự phòng lây nhiễm HIV, trong đó truyền thông thay đổi hành vi là nhân tố then chốt nhằm giải quyết tình hình dịch bệnh. Trong công tác truyền thông, luật phòng chống HIV/AIDS xác định: “ Mục đích và yêu cầu của thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng chống HIV/AIDS phải phù hợp với từng đối tượng, trình độ, lứa tuổi, giới tính, truyền thống, văn hoá, bản sắc dân tộc, tôn giáo, đạo đức xã hội, tín ngưỡng và phong tục tập quán."
 

Cũng như các nhà lãnh đạo khác của cộng đồng, các chức sắc tôn giáo có vai trò đặc biệt quan trọng. Luật Phòng chống HIV/AIDS nhấn mạnh việc phòng chống HIV/AIDS tại cộng đồng dân cư phải: “Phát huy vai trò của các tổ trưởng dân phố, trưởng cụm dân cư, trưởng thôn, già làng, trưởng bản, trưởng làng, trưởng ấp, trưởng phum, trưởng sóc, trưởng ban công tác mặt trận, trưởng các dòng họ, trưởng tộc, các chức sắc tôn giáo, người cao tuổi, người có uy tín trong cộng đồng trong việc vận động nhân dân tham gia phòng chống HIV/AIDS”.
 

Đặc biệt Nhà nước cam kết lôi cuốn và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các tôn giáo có thể thực hiện tốt vai trò của mình trong việc tham gia phòng chống HIV/AIDS: “ Nhà nước tạo điều kiện cho tổ chức tôn giáo, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức xã hội khác thành lập các cơ sở nhân đạo, từ thiện để chăm sóc, nuôi dưỡng người nhiễm HIV và thực hiện các hoạt động khác  trong phòng chống HIV/AIDS”.
 

Trong mục “chăm sóc và điều trị đối với người nhiễm HIV/AIDS”, Luật phòng chống HIV/AIDS tái khẳng định: “Tổ chức tôn giáo, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức khác được thành lập cơ sở chăm sóc người nhiễm HIV”.
 

Những quy định rõ ràng và cụ thể trong Chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS và trong Luật phòng, chống HIV/AIDS là những cơ sở pháp lý rất quan trọng để các giai tầng xã hội, các dân tộc, các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục phát huy thế mạnh của mình, tích cực tham gia phòng, chống HIV/AIDS, phù hợp với giáo lý, đạo đức và điều kiện cụ thể của từng cộng đồng xã hội, từng dân tộc, tôn giáo.
 


Nữ tu tuyên truyền PC HIV/AIDS cho giáo dân


Nhiều người, đặc biệt nhiều người  tu hành và kể cả một số chức sắc các tôn giáo còn nghĩ rằng chỉ những người tham gia vào các tệ nạn xã hội mới bị lây nhiễm HIV/AIDS. Vì vậy họ cho rằng việc đương đầu với HIV/AIDS là việc của xã hội, của các cơ quan phòng chống AIDS. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng sự lây nhiễm HIV/AIDS không loại trừ bất cứ ai. Dù đó là người tiêm chích ma tuý, người bán dâm hay mua dâm, công chức nhà nước, học sinh, sinh viên hay người tu hành, hễ ai đó thiếu hiểu biết về cách thức lây lan của HIV/AIDS và có hành vi không an toàn đều có thể bị lây nhiễm HIV. Người có đạo cũng như những người không có đạo, những con người sống trong một thế giới có HIV/AIDS thì đều phải chịu những tác động của dịch bệnh này nếu họ không nắm được đầy đủ cách thức phòng tránh.
 

Chúng ta đều biết rằng mọi tổ chức tôn giáo trên thế giới nói chung, ở Việt Nam nói riêng, là những thực thể xã hội được hình thành và phát triển từ nhu cầu tâm linh của con người. Điều này dẫn đến hai hệ luận như sau:
 

Thứ nhất là tồn tại của một tôn giáo gắn liền một cách hữu cơ với sự tồn tại và phát triển của một cộng đồng xã hội cụ thể. Không có tổ chức tôn giáo nào tồn tại và phát triển ngoài cộng đồng.
 

Thứ hai là mọi hành động của một tôn giáo, dù là tích cực hay tiêu cực, đều có những ảnh hưởng hay tác động nhất định lên cộng đồng mà nó gắn liền. Bởi đặc tính gắn liền với cộng đồng xã hội, nên những thách thức cho tồn vong của một cộng đồng cũng là thách thức cho chính sự tồn vong tôn giáo của cộng đồng đó. Nói một cách cụ thể hơn, HIV/AIDS, với những tác động nguy hại của nó, thật sự là một thách thức không chỉ riêng cho sự phát triển kinh tế xã hội, mà còn là một thách thức cho lợi ích và phát triển của các tổ chức tôn giáo; nó cũng không chỉ còn đơn thuần là một vấn đề y tế mà còn là một khủng hoảng toàn diện có tác động sâu sắc lên mọi mặt của đời sống xã hội, tâm linh và tình cảm của các cộng đồng người.
 

Để phát huy hiệu quả vai trò của tôn giáo

 

Trong công cuộc đương đầu với đại dịch HIV/AIDS toàn cầu, như chúng ta có thể thấy ở nhiều nước trên thế giới như Thái Lan, Ấn Độ, và vùng Cận sa mạc Sahara, các cộng đồng tôn giáo luôn được Chính phủ của các nước đó quan tâm, cổ vũ để các tôn giáo đó phát huy vai trò quan trọng của mình, bởi ở mọi khía cạnh, tôn giáo luôn góp phần tích cực trong việc hình thành và xác định nên những chuẩn mực giá trị xã hội. Chẳng hạn, chủ trương “một vợ một chồng cho một gia đình” được Đảng và Nhà nước đề ra, thật sự được hỗ trợ rất lớn bởi tiêu chí đạo đức “không tà hạnh” của đạo Phật.
 

Mặt khác, các tôn giáo có thể đóng vai trò ảnh hưởng trong việc nâng cao tầm nhận thức và phổ biến thông tin cho quần chúng nhân dân. Ở nước ta, các ngôi chùa hay nhà thờ thường là nơi tụ tập, trau dồi tri thức và gửi gắm ước vọng của nhiều người dân. Nói khác đi, các trung tâm tôn giáo luôn là nơi phổ biến hữu hiệu những tri thức và thông tin về hiểm họa HIV/AIDS chẳng những cho đồng bào có đạo mà cho nhiều người không theo đạo.
 

Bên cạnh đó, tiếng nói của các nhà lãnh đạo tôn giáo thường có những uy tín nhất định trong cộng đồng, do đó có thể tạo nên ảnh hưởng đến quan điểm, chính sách hay luật định liên quan đến an sinh xã hội. Điều này là rõ ràng, bởi lời nói của họ thường được những người ngưỡng mộ tiếp nhận một cách kính trọng. Vì vậy nếu các chức sắc tôn giáo có đầy đủ kiến thức về HIV/AIDS thì tiếng nói của họ góp phần tích cực trong việc truyền thông thay đổi hành vi phòng chống AIDS và chống sự kỳ thị phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS.
 


Một vấn đề nữa bởi chất tố cơ bản của tôn giáo là tâm linh và tình cảm, nên các cơ sở tôn giáo, nơi thường được mệnh danh là chốn thánh thiện hay từ bi, luôn có thể là môi trường tốt cho việc phát triển nhân cách, nuôi dưỡng lòng tự trọng, và khơi dậy tình thương yêu đồng loại. Những bài giảng về đạo đức, truyền thống văn hóa ở những môi trường tôn giáo sẽ có tác dụng đánh thức tình cảm và lương tri, và thường đọng rất lâu trong lòng người mộ đạo.
 

Các cơ sở tôn giáo cũng thường đóng vai trò rất hữu hiệu trong việc gây quỹ cho những công tác từ thiện. Thực tế cho thấy, các tổ chức tôn giáo, bằng hình thái này hay hình thái khác, đều có những cơ sở y tế hay viện dưỡng lão từ thiện. Với những quỹ và cơ sở từ thiện như thế, các tôn giáo đã phần nào chia sẽ gánh nặng tài chánh, y tế và xã hội cho Nhà nước .
 

An ủi và hàn gắn là một trong những chức năng thực tiễn của tôn giáo. Điều này cũng hàm ý rằng các cơ sở tôn giáo chính là những môi trường tư vấn và tự thân các tu sĩ bình thường cũng có thể là những nhà tâm lý tư vấn nghiệp dư. Những bệnh nhân HIV/AIDS, ngoài những cơn bệnh cơ hội, thường có những hành vi tâm lý thất thường, chẳng hạn như cuồng sản, mê loạn, lệch nhận thức, trầm uất, lo lắng thái quá, hay muốn tự tử…. Do vậy, trong việc chăm sóc người bệnh HIV/AIDS, bên cạnh những điều trị các cơn bệnh nhiễm trùng cơ hội, còn đòi hỏi một môi trường tâm lý tư vấn nữa, và môi trường tôn giáo trong một chừng mực nào đó là môi trường tâm lý phù hợp.
 

Với những chức năng trên đây, rõ ràng các tôn giáo có những thế mạnh to lớn, luôn có thể đóng vai trò năng động, quan trọng trong việc ngăn ngừa và phòng chống sự lan truyền của dịch bệnh HIV/AIDS.
 

PGS/TS Chung Á

Mã chống spam