Những mảnh đời có H không đơn độc

Người đăng bài viết: admin Đăng lúc: Thứ tư - 24/07/2013 23:15

Kỳ 1 : Anh thợ máy vui vẻ
Sau khi nghe câu chuyện một thợ bảo trì máy bị nhiễm HIV qua lời kể của phó giám đốc một công ty may mặc tại quận Tân Phú (TP.HCM), chúng tôi tìm cách liên lạc với anh.

Hiện nay không ít doanh nghiệp đã có chính sách nhân đạo nhằm tiếp nhận những đối tượng lao động nhiễm HIV - Ảnh: Minh Họa

Tại lễ tổng kết dự án “Hỗ trợ việc làm và dự phòng HIV nơi làm việc cho người có nguy cơ cao tại VN” do Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ (gọi tắt là dự án HIV nơi làm việc) diễn ra ở Hà Nội ngày 20-6, bà Phạm Hoài Giang, giám đốc dự án, vui mừng thông báo qua năm năm thực hiện chương trình, 1.200 người sống chung hoặc bị ảnh hưởng bởi HIV tại VN đã tìm được việc làm ổn định hoặc đạt được ước mơ tự kinh doanh.

Tuy nhiên anh liên tục từ chối vì không muốn khơi dậy quá khứ tăm tối. Mãi một tuần sau đó anh mới đồng ý gặp cùng lời nhắn: “Tôi hi vọng câu chuyện của mình sẽ giúp giảm bớt sự kỳ thị của cộng đồng đối với những người nhiễm HIV và có thể giúp ích những người đồng cảnh ngộ”.

Quá khứ đáng quên

Chúng tôi đến nhà anh Nguyễn Văn Anh Đức (tên tất cả nhân vật trong bài đều được thay đổi), 33 tuổi, nằm hút sâu trong một con hẻm nhỏ ở quận Tân Bình vào một buổi chiều tối khi anh đang chăm sóc con gái gần 3 tuổi vì vợ tăng ca chưa về. Hiện anh sống cùng mẹ già và vợ con.

      ++

Quyền lợi của người có H tại nơi làm việc

Theo đề nghị của ban chỉ đạo dự án HIV nơi làm việc, ban giám đốc công ty anh Đức đang làm đã ra quy định riêng về quyền lợi cho những người bị nhiễm HIV và người nghiện sau cai, bao gồm: mức lương hỗ trợ học nghề/tháng bằng 80% mức lương tối thiểu, được hỗ trợ lương ba tháng đầu bằng mức lương tối thiểu (nếu tiền lương sản phẩm thấp hơn lương tối thiểu), thời gian nghỉ không quá 2 ngày trong tháng của người nhiễm HIV vẫn được hưởng tiền chuyên cần, nghỉ 1/2 ngày đi lấy thuốc kháng HIV ARV vẫn được hưởng nguyên lương.

Đó là một người đàn ông nước da đen nhẻm, hơi gầy và đôi mắt sâu hút nhưng luôn ánh lên niềm lạc quan. Anh kể mình bắt đầu nghiện ma túy năm 18 tuổi. Đến năm 25 tuổi, thương mẹ già vất vả lại hay bị bệnh tim hành hạ, anh quyết tâm giũ bỏ quá khứ nghiện ngập khi quyết định làm công nhân cho một doanh nghiệp may mặc ở địa phương nhờ chính sách hỗ trợ việc làm cho những đối tượng sau cai nghiện. Trớ trêu thay, đúng lúc anh đang khao khát sống một cuộc đời có ích nhất thì lại nhận “bản án tử hình treo”.

Nhớ lại hôm nhận kết quả dương tính HIV từ một trung tâm xét nghiệm năm 2006, anh vẫn còn cảm thấy rờn rợn: “Đầu óc tôi trống rỗng. Một nửa chấp nhận, một nửa phó mặc cho số phận...”. Sau đó, anh giấu người thân chuyện mình bị bệnh vì sợ mẹ già sốc không sống nổi. Anh tiếp tục làm việc với ý nghĩ sống tới đâu hay tới đó, thậm chí còn không dùng thuốc đặc trị HIV ARV vì cho rằng mình còn khỏe mạnh. Cuộc đời anh cứ thế nhàn nhạt trôi qua cho đến khi anh tìm thấy “một nửa của mình” cũng là đồng nghiệp cùng công ty. Tuy vậy, thời điểm đó vợ anh không hề biết chồng mình đang nhiễm HIV. Theo lời anh, trong quan hệ vợ chồng, anh luôn cố gắng áp dụng các biện pháp an toàn để không lây bệnh cho vợ. Nhưng có một lần anh say rượu và quên dùng bao cao su. Sau đó vợ anh thông báo có thai khiến anh ngày đêm hoang mang không biết vợ con mình có bị lây nhiễm HIV hay không.

Kỳ 2 : Cửa đời rộng mở
 

Cách đây bảy năm, hai chuyến xe buýt từ Trung tâm Giáo dục và dạy nghề Bình Triệu (Q.Bình Thạnh, TP.HCM) đưa gần 30 người sau cai nghiện đến làm việc tại Công ty dệt may Đại Việt (Q.Tân Phú).
Một thanh niên thuộc “dự án HIV nơi làm việc” được hỗ trợ học nghề sửa xe máy - Ảnh tư liệu USAID

Sau một thời gian họ lần lượt bỏ đi vì nhiều lý do, chỉ còn bốn người ở lại tiếp tục gắn bó với công ty đến nay, trong số đó có anh N.Đ.C. và chị T.T.H., những người cũng được hưởng lợi từ “dự án HIV nơi làm việc”.

Những ký ức kinh hoàng

So với độ tuổi 31 và 33, gương mặt anh C. và chị H. đều trông trẻ hơn nhiều. Nhìn ánh mắt tinh anh, tràn đầy sức sống khi trò chuyện với chúng tôi, khó có thể tưởng tượng những gì họ đã trải qua khi vướng vào ma túy, và khi được hỏi họ đều lắc đầu ngao ngán: “Khủng khiếp lắm. Giờ không dám quay lại đâu”.

Năm ấy anh C. 17 tuổi, nghe bạn bè rủ rê, anh thử và nghiện lúc nào không hay.

C. kể lúc đó anh bỏ nhà đi bụi, mỗi ngày lảng vảng ở chỗ mẹ bán tạp hóa xin tiền, lúc 20.000 đồng, lúc 50.000 đồng. Thời ấy số tiền đó không đủ để mua thuốc hít, đêm về C. quơ trộm hết đồ đạc của người ta, từ dép đến quần áo, đến cả ăngten cũng... bẻ. Vào mấy tiệm bán hàng, C. liều mình giật đồ rồi chạy.

Có lần C. bị trận đòn thừa sống thiếu chết: “Lúc đó leo qua nhà người ta lấy quần áo, 4-5 người phát hiện liền xông ra nắm đầu, đá, đập bằng cây, sợ tôi chết mới thả ra cho đi”. C. lết về nhà, được mẹ đưa ra trạm xá băng bó vết thương, nhưng khi vừa thấy trong túi mẹ có tờ 50.000 đồng, anh nhanh tay giật rồi lại bỏ chạy. “Lúc đó bằng mọi giá phải có tiền”, anh lắc đầu nhớ lại.

Cũng như anh C., chị H. bị nghiện năm 2001 khi mới 21 tuổi. Chị cười, bảo lúc đó ghét xì ke lắm, vậy mà quen bạn trai xong bị dụ hít rồi nghiện, cứ phải kiếm anh ta để xin. “Lúc đó cũng không biết gì, chơi cho vui, hút vô ói thấy mồ, từ từ riết không có thì mệt, ngáp, phải đi tìm”, chị kể về cảm giác mà bất cứ con nghiện nào cũng trải qua.

Từ một cô công nhân siêng năng làm việc tại Khu chế xuất Tân Thuận ở quận 7, tháng nào cũng gửi tiền đều đặn về cho gia đình, H. nghỉ, đi làm cho một quán cà phê, tiền gửi về nhà thưa dần rồi mất hẳn, thỉnh thoảng về nhà lấy đồ rồi lại đi.

Liếc nhìn cô con gái mới hơn 4 tuổi đang chạy lăng xăng chơi với bạn, chị H. nhớ lại quãng đường đã qua, không giấu được vẻ sợ sệt trong ánh mắt: “Nghĩ lại khủng khiếp, một năm đổ cả đống tiền vào đó, tiền dành dụm mấy năm đi làm xài hết, vàng đang đeo cũng bán. Có lúc cầm xe đạp được hai ba trăm ngàn, gia đình phải lên chuộc về”.

Tấm lòng cha mẹ

Những tưởng nghiện ngập khiến con người ta luôn bất chấp mọi thứ. Thế mà lại có những khoảnh khắc đủ “đau” để kéo họ quay trở về, quyết tâm làm lại từ đầu. Đó là những lúc nhìn giọt nước mắt của đấng sinh thành và nỗi đau của gia đình do chính mình gây ra.

“Lúc bị bắt vào Bình Triệu, nghĩ chắc gia đình bỏ rơi mình, nằm gần 10, 11 ngày bữa nào cũng khóc. Lúc đó tuyệt vọng vô cùng”. Nhớ lại hình ảnh sau 20 ngày chờ đợi mòn mỏi tại trung tâm cai nghiện, nghe đọc tên có người đến thăm nuôi, C. “hết hồn chạy ra, thấy mẹ đang đứng chờ, hai mẹ con ôm nhau khóc” - anh kể lại vanh vách như thể ký ức ấy đã in sâu trong trí nhớ mình.

C. nói lúc anh bị bắt, gia đình cũng không biết tin. Chỉ khi mẹ thấy anh “mất tích” lâu quá, một mình bà đi khắp nơi tìm con, đến hết các trung tâm cai nghiện mà vẫn không gặp, tới khi nghe có người chỉ qua Bình Triệu.

“Tôi không dính tới ma túy thì mẹ cũng không ra nông nỗi như hôm nay, gia đình cũng không tan nát (mẹ anh bị tai biến mạch máu não, cha mất năm 2005). Tội nghiệp mẹ buôn bán, gom tiền đi thăm” - anh trải lòng nói về cảm giác hối lỗi sau mọi việc.

Tấm lòng của người cha, người mẹ chính là điều kỳ diệu đã kéo cả anh C. lẫn chị H. quay về làm lại cuộc đời. “Mỗi lần đi thăm tôi hết 200.000 đồng. Mẹ thì bán trái cây quá vất vả, còn cha lớn tuổi, không làm ra tiền, đi cà nhắc vô thăm...” - chị H. chia sẻ động lực khiến chị làm lại cuộc đời.

H. lặng lẽ ngoái đầu nhìn cha, nói hồi còn nghiện, tết chị về nhà lấy đồ rồi tính đi tiếp, cha đã chặn lại không cho chị đi và còn khóc. Mồng 1, mồng 2 tết, cha lủi thủi đi kiếm chị về. Lúc biết chị vẫn cương quyết đi, cha còn gói lạp xưởng để chị mang theo. Bây giờ cha đã cao tuổi, lại bị tai biến mạch máu não, yếu đi nhiều, nhưng hình ảnh của người cha năm xưa có lẽ vẫn không phai trong tâm trí chị H..

Đường về rộng mở

Hiện tại, cả anh C. và chị H. đều làm công nhân Công ty dệt may Đại Việt. Được bình chọn là một trong các doanh nghiệp đã tích cực tham gia dự án “Hỗ trợ việc làm và dự phòng HIV nơi làm việc cho người có nguy cơ cao tại Việt Nam” của USAID, Công ty Đại Việt có nhiều chính sách nhân đạo dành cho người có HIV và sau cai, tạo điều kiện cho họ có cơ hội đi làm và hòa nhập xã hội.

“Đây là công việc chính đầu tiên của tôi, cũng là nơi làm lại con người tôi. Mình phấn đấu đi lên, được bạn bè đối xử hòa đồng, tin tưởng xem trọng, không phân biệt đối xử. Lúc mẹ bệnh còn được mọi người quyên góp hỗ trợ. Môi trường làm việc rất thoải mái, không có gì phải phiền lòng” - anh C. chia sẻ về nơi đã dang tay đón chào mình sau khi hồi gia từ Trung tâm Bình Triệu.

Bên cạnh công việc điều chuyền, mỗi ngày làm từ 7g30-17g30, anh C. còn nhận thêm việc bốc xếp hàng hóa sau giờ làm để kiếm thêm thu nhập. “Mình phấn đấu đi lên, bạn bè đối xử hòa đồng, chơi giỡn vui vẻ bình thường, còn đi ăn chung. Bây giờ ở nhà cũng hết giận rồi, chủ nhật về nhà dì chơi, họ đón tiếp niềm nở lắm. Đó là niềm hạnh phúc của mình, cứ nghĩ là bị bỏ rồi” - anh C. tươi cười kể về những tình thương mà anh nhận được từ công ty, người thân trong những ngày đầu làm việc.

Lúc chúng tôi nói chuyện với chị Diệp Thị Hằng Nga, phó giám đốc công ty, chị cứ khen cô công nhân H. làm giỏi, rất siêng năng, chịu khó. Đến lúc nghe chị H. giải thích: “Người ta may mấy trăm (sản phẩm), mình nhờ quen tay may tới gần 1.000. Nhiều khi tăng ca tới 1.200-1.300”, chúng tôi mới bất ngờ trước khả năng làm việc của chị. Hỏi chị đi làm có vất vả không, chị bảo: “Việc nào mà chẳng cực. Tôi nghỉ ở nhà được vài bữa là lại muốn đi làm” rồi cười.

Cũng như anh C., chị cảm thấy mình may mắn khi làm ở Công ty Đại Việt vì được đào tạo, đi học cách phòng ngừa HIV, giúp ích cho mình và kể cả những người xung quanh rất nhiều, lại được đồng nghiệp đối xử bình đẳng, còn những người lớn tuổi xem chị như con cháu. “So với cuộc sống hồi 21 tuổi, tôi đã tìm lại được chính mình, thật hạnh phúc. Lúc đó ít ở chung với gia đình, giờ về sống chung mới biết thương cha thương mẹ” - chị H. tâm sự, ánh mắt thoáng buồn khi nhìn cha mẹ già đã vất vả quá nhiều vì mình.

“Tôi được nhận bằng khen công nhân xuất sắc, công nhân chuyên cần hồi năm nay. Xong việc là chạy về nhà với con”, chị H. tự hào chỉ tôi cái bằng khen treo trang trọng trong ngôi nhà tuềnh toàng mà chị sống cùng cha mẹ và các anh chị em. Thỉnh thoảng con chị lại chạy đến bên mẹ, ôm mẹ, đòi uống nước, hay lại nũng nịu bảo “mẹ ơi con đói”. Chị bảo làm ra bao nhiêu tiền đều để dành mua sữa, mua đồ cho con.

Sau những dông bão hôm qua, giờ đây cả anh C. và chị H. đều đã tìm lại được rất nhiều thứ mình vô tình đánh mất trong phút lầm lỡ. Trong tương lai, anh C. nói muốn ổn định chỗ ở, chỗ làm, rồi đón mẹ về lo cho, chuyện cưới xin thì “không năm nay cũng năm sau”. Còn chị H., quay sang nhìn con gái đang tung tăng đùa giỡn, nói đã hài lòng với cuộc sống hiện tại. “Giờ chỉ muốn có người lo phụ giúp con cái, có người lo chở con đi học” - chị nói trong hi vọng.

Kỳ 3: Bóng hình thầm lặng

Trên chặng đường tìm lại chính mình của những người bị nhiễm HIV hoặc sau cai nghiện, bên cạnh sự nỗ lực của người trong cuộc và sự giúp đỡ của cộng đồng, còn phải kể đến những người mẹ, người vợ đã hết lòng động viên, hỗ trợ người con, người chồng mình có thêm sức mạnh vượt qua khó khăn.

Một tình nguyện viên (trái) hỗ trợ một bạn trẻ thuộc dự án làm hồ sơ xin việc - Ảnh: Phạm Hoài Thanh

Mẹ

Chúng tôi gặp mẹ chị T.T.H. tại một căn nhà nhỏ lụp xụp ngổn ngang xe đẩy bán trái cây. Gặp chúng tôi, người đàn bà đã ngoài 60 tuổi cười bảo: “Ở đây nóng lắm, mấy nhà cao tầng xung quanh chắn hết gió rồi. Mấy đứa ra ngoài ngồi cho mát”. Tiếng cười sang sảng là vậy nhưng ánh mắt bà vẫn không giấu được nỗi buồn của người mẹ đã năm năm lặn lội nuôi con ở trại cai nghiện.

“H. hồi đó ngoan lắm, tháng nào đi làm cũng đem tiền về đầy đủ. Từ công ty tới làng xóm nó đi đâu ai cũng thương hết”, bà mở đầu câu chuyện về cô con gái bằng giọng tiếc nuối cái thời còn quá đỗi yên bình.

“Một bữa nó về báo tin động trời là muốn cai nghiện, lúc đó tôi thiếu điều rơi xuống giếng chứ không phải rơi xuống đất” - bà bồi hồi nhớ lại. H. xin được cai ở nhà, nhưng cứ được một, hai tuần lại bỏ đi. Cuối cùng, bà đành tự tay xích chân H. lại để cô không đi tìm “nàng tiên nâu” nữa. “Buồn lắm con ơi” - bà kể về nỗi đau mỗi lúc nhìn con vật vã lên cơn. Một hôm, nhân lúc mẹ vắng nhà, H. xin cha mở xích để đi tắm rồi leo ngõ sau bỏ trốn. Một lần nữa mẹ cô đành nuốt nước mắt, “thấy người ta xì ke hình hài ghê quá nên bấm bụng gọi điện báo công an đến nhà trọ vây bắt con mình”.

“Năm năm trời tôi bán trái cây nuôi nó trong trại. Mấy bữa lên thăm phải dậy từ 3 giờ sáng”, bà kể lại những ngày tháng gian truân. Nghe chúng tôi hỏi về ngày H. hồi gia sau năm năm cai nghiện, giọng bà trở nên phấn khởi. Bà khoe hai ngày trước khi H. về, bà lật đật vay tiền sắm cho cô xe máy làm phương tiện di chuyển. Mấy tháng sau, bà lại tiếp tục mượn tiền góp mua cho cô cái điện thoại. “Hai mẹ con cùng làm để trả nợ đó”, bà cười.

Cũng như mẹ chị H., mẹ anh Đức (“anh thợ máy vui vẻ” mà Tuổi Trẻ đề cập trong kỳ 1) cũng làm mọi cách để kéo con mình ra khỏi cám dỗ của ma túy. Đức nghiện từ năm anh học lớp 10. Ban đầu bà để con ở nhà, mua thuốc tự cai, rồi dẫn đi bác sĩ cai thêm hai lần, đồng thời nhờ người quản thúc nhưng vẫn không có tác dụng. Cuối cùng năm 2001, bà quyết định đưa con đi cai nghiện ở trại Lâm Hà, sau đó chuyển qua Bình Phước và Bình Triệu. “Lúc đó tôi nhìn nó thấy rất đau lòng, nghĩ nó chết đi cho nhẹ nhàng, tôi còn thấy nhẹ lòng hơn” - bà kể lại lần đầu tiên thấy cảnh con vật vã lên cơn nghiện.

Bà quyết định bán luôn ngôi nhà ở gần chợ vải Soái Kình Lâm để tách con ra khỏi nhóm bạn bè bị nghiện. “Nhà đó tôi ở hơn chục năm, rộng lắm. Lúc đó tôi đấu tranh tư tưởng dữ dội”. Dù tiếc, nhưng vì con bà bấm bụng chuyển qua căn nhà nhỏ nằm sâu trong một con hẻm ở quận Tân Bình.

Sau năm năm cai nghiện, Đức hồi gia và được nhận vào làm ở một công ty dệt may. Tháng lương đầu tiên, anh mua bánh trái về biếu mẹ. Bà phấn khởi chỉ tay lên bức tường ở phòng khách, khoe với chúng tôi: “Đó, hôm sinh nhật tôi nó mới đi mua tấm tranh về tặng đó, cảm động lắm”. Giọng buồn rầu, bà nói với chúng tôi nỗi lòng của người mẹ có con nghiện ma túy: “Mặc cảm lắm, hồi đó ai nói gì cũng cúi đầu không dám nói, trong lòng khổ lắm mà không biết nói với ai”.

“Tôi bị đủ thứ bệnh, vừa tiểu đường, thiếu máu cơ tim, còn thêm gai cột sống, vậy mà không hiểu sao có thể sống được để mà lo cho nó lúc đó”, bà nhớ lại những năm tháng gian khổ “chạy theo” Đức khi anh đang chìm đắm trong ma túy.

Vợ

Chị Phạm Thị Ngân, người sinh cho anh Nguyễn Văn Anh Đức một bé gái kháu khỉnh, nói về chồng với giọng đầy yêu thương và cảm thông: “Tôi không tìm hiểu quá khứ của ảnh, chỉ cần biết hiện giờ người ta có sống tốt hay không”.

Biết nhau gần ba năm nhờ làm chung công ty, ấn tượng của chị về anh Đức là “một người hiền lành, nói chuyện đàng hoàng chứ không có vẻ gì là “giang hồ” hay tệ nạn xã hội”.

Chị nói lúc đầu gặp anh chị không sợ, xem anh như những người bình thường khác và vẫn đùa giỡn vui vẻ. Tấm lòng bao dung của chị Ngân đã khiến anh Đức phải rung động. “Hôm 8-3, ảnh nhờ người chuyển cho mình món quà là một cái áo, còn giả bộ nói là tặng nhiều người.

Thật ra lúc ấy biết ảnh tặng có mình mình”, chị nhớ lại kỷ niệm về món quà đầu tiên chồng tặng. “Chắc lúc đó ảnh thương mình rồi”, chị cười.

Cưới nhau chưa được bao lâu, lúc gần sinh đứa con đầu tiên thì anh Đức đổ bệnh, sốt liên tục mấy tháng liền. Gia đình đưa anh đi khám ở nhiều bệnh viện nhưng không khỏi.

Cuối cùng, tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới, gia đình biết anh Đức nhiễm HIV. “Lúc nghe tin ảnh bị nhiễm, nói sợ người ta không tin chứ mình bình thường lắm. Mình thương anh Đức, không hề nghĩ sẽ xa lánh ảnh” - chị Ngân kể lại cảm giác lúc ấy.

Đến khi bệnh tình trở nặng, anh Đức từ hơn 60kg sụt còn 38kg, cả gia đình đều nghĩ anh khó qua khỏi. Chỉ có chị Ngân vẫn tin tưởng anh sẽ sống: “Lúc ấy ảnh như cái xác khô. Bác sĩ cũng nói hi vọng sống chỉ 20%. Nhưng mình không suy sụp. Mình nghĩ kiếm cách nào chữa bệnh cho chồng”.

Thế là chị chạy ra một bệnh viện ở quận Tân Bình để lấy thuốc kháng HIV ARV cho anh uống. “Lúc đó anh Đức đau đớn lắm, bác sĩ nói bây giờ chỉ có một cách là lên Bình Thạnh lấy thuốc giảm đau. Mình bảo bác sĩ cứ để con đi, con cố được lúc nào hay lúc đó”.

Mỗi tuần chị lại chạy từ quận Tân Bình lên quận Bình Thạnh để lấy thuốc về cho chồng uống giảm đau. “Ban đầu người ta không tin, nghi mình lên lấy thuốc về cho người bị nghiện uống nên chỉ đưa mỗi lần một viên. Cứ cách hai, ba ngày mình phải nghỉ làm một bữa, đi suốt gần ba tháng trời” - chị nhớ lại.

Chị Ngân nói nhiều lúc quên mất chồng mình đang bị nhiễm HIV, cứ tưởng anh là người bình thường như bao người khác. “Nhiều khi ảnh bị trầy xước, nhắc coi chừng máu, mình mới sực nhớ, chứ không cũng quên luôn”. Chị nói cái cách sống không phân biệt đối xử đó giúp anh Đức không suy nghĩ nhiều về căn bệnh của mình, có niềm tin hơn.

Cũng như chị Ngân, chị Trần Thị Phương, 27 tuổi, đã gạt bỏ cảm giác xa lạ, cách biệt để dang rộng vòng tay yêu thương, chăm sóc cho chồng mình là anh Đoàn Văn Thương (một nhân vật đã vươn lên nhờ vay vốn của dự án). “Hồi đầu nghe mình bị choáng, về mất ngủ cả đêm, tưởng tượng cảnh quá khứ của ảnh - chị Phương kể lại lần đầu tiên biết anh Thương từng là con nghiện - Rồi mình nghĩ lại, nhớ tới con người hiện tại của ảnh, ảnh đã thay đổi rồi, nên mình gọi sang an ủi, động viên”.

Cũng từ đó, chị vượt qua nỗi sợ của bản thân, chấp nhận yêu và đi đến hôn nhân với anh Thương vào năm 2011. Hiện nay họ đã có một bé gái kháu khỉnh được 5 tháng tuổi. “Lần đầu tiên ảnh tới nhà, gia đình mình đón tiếp rất nồng hậu, vì trước khi ảnh đến mình đã nói rõ với cha mẹ và muốn mọi người đón nhận ảnh”, chị chia sẻ.

Dù mỗi người một tính cách, mỗi gia đình một hoàn cảnh, nhưng khi nghe chúng tôi hỏi về những điều muốn làm cho chồng mình, cả hai người phụ nữ đều nói họ muốn trở thành người vợ tốt, làm chỗ dựa về tinh thần cho chồng, luôn tạo niềm vui và động viên để chồng không cảm thấy tủi thân. “Mình chỉ muốn vợ chồng sống vui vẻ, với mình sức khỏe anh Đức là trên hết, để còn sống với gia đình”, chị Ngân nhắn nhủ. Còn chị Phương, ở đầu dây bên kia điện thoại, dường như đang nở một nụ cười rất nhẹ và bình yên khi nói với chúng tôi: “Mình tâm niệm dù thế nào đi nữa vợ con cũng sẽ ở bên cạnh anh. Mình tự hứa sẽ động viên ảnh. Mình thương ảnh lắm, nhưng ít nói ra, chỉ muốn làm thôi”.

Kỳ cuối : Doanh nghiệp chung tay
 

Ngoài cung cấp cơ hội việc làm cho 1.200 đối tượng nhiễm HIV và người có hành vi nguy cơ lây nhiễm cao, dự án HIV nơi làm việc còn giúp dự phòng lây nhiễm HIV cho gần 90.000 nhân viên thuộc 118 doanh nghiệp trải dài khắp nước.

VCCI tổ chức vinh danh các doanh nghiệp có đóng góp tích cực cho dự án phòng chống HIV nơi làm việc - Ảnh: Usaid


Ước tính 80% trong số 206.000 người sống chung với HIV ở VN (theo số liệu của Cục Phòng chống HIV/AIDS cuối năm 2012) đang trong độ tuổi lao động từ 20-39 tuổi. Do vậy, nhiều doanh nghiệp xem phòng chống HIV tại nơi làm việc là cực kỳ cần thiết bởi HIV không những ảnh hưởng trực tiếp đến độ tuổi lao động mà còn vì lực lượng lao động đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế sự lây truyền của đại dịch này.

Nhiều lợi ích

 

Dự án dự phòng HIV/AIDS nơi làm việc thuộc khuôn khổ chương trình cứu trợ khẩn cấp của tổng thống Hoa Kỳ về phòng chống AIDS (PEPFFAR) và do Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ với tổng ngân sách 3 triệu USD. Dự án được Tổ chức quốc tế Chemonics phối hợp với Cục Phòng chống HIV/AIDS/Bộ Y tế, Ngân hàng Chính sách xã hội, Cục Phòng chống tệ nạn xã hội/Bộ Lao động - thương binh và xã hội, Phòng Thương mại công nghiệp Việt Nam, Hội đồng nữ doanh nhân Việt Nam và một số đối tác khác thực hiện tại tám tỉnh, thành: Điện Biên, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An, TP.HCM, Cần Thơ và An Giang.

Trong năm năm tham gia dự án, các doanh nghiệp đã đóng góp tổng số tiền lên đến 765.000 USD để tiến hành các hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại doanh nghiệp của mình. Sau khi dự án kết thúc, 72% số doanh nghiệp vẫn tiếp tục duy trì chương trình dự phòng HIV nơi làm việc với kinh phí hoàn toàn của doanh nghiệp

 

ông ty dệt may Đại Việt, Hợp tác xã vận tải số 9 và Phòng Thương mại và công nghiệp VN (VCCI) chi nhánh TP.HCM là ba trong số 16 doanh nghiệp được vinh danh nhờ áp dụng hiệu quả mô hình phòng chống HIV/AIDS nơi làm việc.

Ông Nguyễn Đức Bình, giám đốc Trung tâm Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ & vừa thuộc VCCI, cho biết trung tâm của anh tham gia dự án thông qua hình thức tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS cho doanh nghiệp, để sau đó họ tự thân vận động tuyên truyền lại cho cán bộ công nhân viên của mình. Ngoài ra trung tâm còn tổ chức các lớp huấn luyện mời doanh nghiệp đến chia sẻ các thông tin về phòng chống HIV/AIDS cũng như phát bao cao su và tài liệu tuyên truyền miễn phí.

Trong số 12 doanh nghiệp đã tham gia huấn luyện, VCCI đào tạo được 60 học viên đủ tiêu chuẩn để thành tuyên truyền viên giỏi. Sau khi dự án kết thúc, VCCI vẫn duy trì liên lạc với các doanh nghiệp này, sẵn sàng hỗ trợ và cung cấp các tài liệu phòng chống HIV/AIDS khi họ cần.

Ngoài ra doanh nghiệp tham gia dự án còn được hưởng nhiều ưu đãi về thuế. Theo nghị định số 122/2011/NĐ-CP của Chính phủ, các khoản chi thực tế cho hoạt động phòng chống HIV/AIDS nơi làm việc của doanh nghiệp theo hướng dẫn của Bộ Y tế bao gồm: chi phí đào tạo cán bộ phòng chống HIV/AIDS của doanh nghiệp, chi phí tổ chức truyền thông phòng chống HIV/AIDS cho người lao động của doanh nghiệp, phí thực hiện tư vấn, khám và xét nghiệm HIV, chi phí hỗ trợ người nhiễm HIV là người lao động của cơ sở kinh doanh được trừ ra khi xác định thu nhập chịu thuế.

Một người tham gia điều hành dự án năm năm qua cho biết thành công lớn nhất của dự án chính là nhìn thấy hơn 1.200 mảnh đời tìm được công việc phù hợp với khả năng và sở thích của họ.

 

Tình nguyện viên tư vấn kỹ năng xin việc cho một thanh niên thuộc dự án - Ảnh: Phạm Hoài Thanh

Nhìn thoáng hơn về người có H

Bà Diệp Thị Hằng Nga, phó giám đốc Công ty cổ phần may Đại Việt ở quận Tân Phú, cho biết nhờ các dự án phòng chống HIV/AIDS nơi làm việc như Smart Work và gần đây nhất là dự án dự phòng HIV nơi làm việc của USAID mà hầu hết nhân viên công ty không còn sợ sệt khi tiếp xúc với nhiều lao động sau cai nghiện. “Có thời điểm công nhân rất hoang mang vì họ nghĩ những người sau cai giống như một cái gì đó dễ lây nhiễm và là một đối tượng khó gần gũi, do đó họ có kỳ thị đối với những đối tượng này”, bà Nga nhớ lại thời điểm công ty tuyển dụng nhiều lao động sau cai vào năm 2006 và 2007.

Bên cạnh tổ chức truyền thông trực tiếp cho toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty về chính sách HIV của doanh nghiệp, lồng ghép vào những lần đào tạo nhân viên mới, công ty còn tổ chức truyền thông nhóm mỗi tháng một lần, mỗi nhóm 30-50 người với thời lượng 60 phút trong giờ làm việc. Người lao động được hưởng nguyên lương khi tham gia các buổi này.

Trong khi đó bà Lê Thị Thu Nga, phó phòng tổ chức nhân sự kiêm phó chủ tịch công đoàn HTX vận tải số 9, nói sau khi tham gia các lớp tập huấn về phòng chống HIV/AIDS nơi làm việc thì các nhân viên công ty có một cái nhìn rất thoáng về những người bị nhiễm HIV vì họ biết rõ đâu là giới hạn lây nhiễm của căn bệnh này. “Nhiều nhân viên bất ngờ khi nghe tôi phổ biến lại những kiến thức phòng chống HIV/AIDS mà họ chưa hề biết trước đó. Điều tôi hơi tiếc là doanh nghiệp chúng tôi chưa có cơ hội phổ biến cho những tài xế chạy xe đường dài, những đối tượng có nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS cao” - bà Nga nhìn nhận.

Bà Phạm Hoài Giang, giám đốc dự án HIV nơi làm việc của USAID, cho biết dự án đã góp phần làm thay đổi cách nhìn nhận của xã hội và các doanh nghiệp đối với nhóm đối tượng dự án. Dù chỉ đảm nhận vị trí giám đốc dự án trong 18 tháng cuối cùng, bà Giang chia sẻ bà có rất nhiều sự đồng cảm với nhóm người này do từng tham gia một số dự án về HIV và nhóm người yếu thế khi còn làm việc ở Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam.

QUỲNH TRUNG - BÌNH MINH

Mã chống spam