Page 1 of 2 12 LastLast
Results 1 to 10 of 15

Thread: Hành trình xương thủy tinh

  1. #1

    Hành trình xương thủy tinh

    Theo Tuổi trẻ, 2008

    TTO - “Chiều nay ta lại chuyển nhà... Lần này thì chúng ta thật sự ở cùng nghĩa địa... Mùa chay, người ta ra nghĩa địa đọc kinh cho các linh hồn. Tiếng kinh nguyện và những vành khăn trắng... Mẹ nhìn người ta, mẹ đứng im chết lặng. Mẹ sẽ còn ôm con đi tới tận đâu, nơi cái thế gian này? Mẹ không biết, mẹ không biết con trai à...”.

    Cuộc hành trình của người mẹ trẻ - Nguyễn Thị Thu Hương - với đứa con mang căn bệnh quái ác cứ như thế: Đi, bán nhà mà đi, đi về nơi xa hơn nữa, hẻo lánh hơn nữa, tăm tối hơn nữa... Nơi “thật sự ở cùng nghĩa địa” chưa phải là nơi cuối cùng của cái gia đình ấy. Cuộc hành trình vẫn tiếp diễn.

    Nhưng để chống chọi với căn bệnh quái ác, giành lấy sự sống cho con, giữa Sài Gòn, không người thân, không chỗ dựa, người mẹ trẻ ấy - người con gái đất Bắc, 21 tuổi, từng ngồi trong giảng đường đại học - không chỉ bán nhà và đi... Thu Hương còn lao vào cuộc sống với tất cả nỗi nhọc nhằn, cực nhục mà người đời có thể có. Tất cả “chỉ để đổi lấy một điều: Con sống. Con được đi học. Con được yêu thương và được chăm sóc đủ đầy... Chúng ta vẫn có nhau, vẫn tồn tại giữa đời này...”. Cái điều tưởng như thường tình với hàng vạn người phụ nữ khác ấy, với Thu Hương thì lại là “cái vòng xoay khốc liệt của số phận”. Không khốc liệt sao được khi mà...“Từ ấy đến lúc con hai tuổi, con ốm triền miên. Đã thế lại gãy xương thêm vài lượt... Qua hai tuổi, con gãy tay. Chưa tháo bột lại... gãy chân... Ta đã ở dọc đường Lê Đức Thọ suốt 8 năm, đã bán nhà 10 lần và con đã gãy xương tới 27 bận... Bó bột - nằm viện - kiếm tiền -..., mẹ không còn thời gian để khóc trước cái vòng xoáy khốc liệt của số phận nữa...”.

    Không còn thời gian để khóc và không khóc, người mẹ trẻ ấy chỉ “thề nguyền”:“Còn một chút hơi thở là mẹ còn chiến đấu vì sự sống của con, có sao đâu, con trai của mẹ...”.

    Nhưng không phải chỉ dừng lại ở sự sống - dù sống được với đứa trẻ mang căn bệnh “xương thủy tinh” đã là chuyện lạ, đã là kỳ công - Thu Hương còn nâng, còn “đẩy” con mình lên. Trong suốt cuộc hành trình, bất cứ trong hoàn cảnh khốn khó, khổ ải đến đâu, cũng nghe thấy lời người mẹ trẻ, rất dịu dàng mà đầy cương quyết, tỏ bày cùng con: Sống là phải đi về phía trước, “Phải học thôi Hội à! Ốm cũng học! Què quặt, khập khiễng cũng phải học...”. Sống là phải có ước mơ đẹp cho đời, “Đừng bao giờ chỉ sống với những thực tại trần trụi. Con có thấy, cuộc đời sẽ đẹp mãi, nếu ta còn biết ước mơ. Không phải cứ mơ ước nào cũng thành. Nhưng không phải vì thế mà con không mơ ước...”. Sống là phải biết ơn biết nghĩa ở đời, “Đấy, Hội ạ, nhớ lại những chuyện cũ mẹ bỗng nghĩ suy: bao tháng ngày qua, mẹ chưa phụ cuộc đời này, dẫu rằng đã có những lúc quá đắng cay, nhưng rồi cuộc đời đã bù đắp cho ta nhiều lắm! Vậy mẹ nhắc con một điều cần phải nhớ, vì giờ đây con cũng đã lớn rồi: rằng sau này, sống ở đời, đừng bao giờ con trở thành một kẻ vong ơn, vì con đã mắc nợ cuộc đời nhiều lắm. Nợ nghĩa, nợ tình...”...

    Đọc Hành trình “Xương thủy tinh”, tôi đã gặp một cuộc hành trình lạ lùng: càng đi về những mảnh đất xa hơn, hẻo lánh hơn, tối tăm hơn, gian khó hơn, lại chính là lúc cả cái “gia đình xương thủy tinh” ấy càng đến gần hơn với một mảnh đất mới khác, mảnh đất rộn rã, ngập tràn ánh sáng của tình người, của ước vọng tương lai đã biến thành hiện thực...

    Và, trên mảnh đất mới này, Hành trình “xương thủy tinh” vẫn tiếp tục, “nhưng hành trình ấy giờ đây không còn nặng nề, u ám như những ngày xưa. Hành trình ấy đã nhẹ nhõm hơn, vui tươi hơn và có cả sự thi vị nữa”. Thu Hương đã viết vậy trong “Lời cuối”. Tôi xin thêm vào: Cuộc hành trình giờ đây còn đến để sẻ chia, đến để tay nắm lấy tay, đến để nụ cười tiếp với nụ cười, cùng những phận đời ở những nơi nghèo khó, tối tăm vượt qua khó nghèo, tăm tối.

    Phải thú nhận rằng càng đọc Hành trình “xương thủy tinh” của Thu Hương, tôi càng bị lôi cuốn. Cái lôi cuốn của sự sống động, chân thật trong cách viết, cách diễn đạt; của chất sống thật ngồn ngộn, khắp nơi, trong từng câu, từng đoạn; của sự kiện, chi tiết bất ngờ, lạ cứ dồn dập kéo đến... Nhưng trên hết, đậm nhất ấy là sự xúc động mà Hành trình“xương thủy tinh” đem lại: Làm sao mà giữ lại được, không phải rưng rưng khi trong mỗi trang sách ta đều gặp một nỗi đớn đau, đớn đau có lúc đến quặn thắt, tận cùng và cùng lúc trong mỗi trang sách ấy ta lại gặp một nghị lực và một tình yêu thương đến kỳ lạ của một người mẹ trẻ, rất trẻ...

    Người mẹ trẻ cứ xốc con bước tới, về phía trước và để lại những trang viết về cuộc hành trình như để lại những dấu chân đẹp giữa đời...
    Hãy sống hết mình cho giây phút hiện tại.
    Hãy mang niềm vui đến cho những người xung quanh bạn.
    Hãy chia sẻ một chút may mắn của bạn cho những người khó khăn hơn.
    Hãy làm như vậy, bạn nhé!

  2. #2

    Kỳ 1

    TTO - Khi mẹ mang bầu con, nhà mình ở trong doanh trại bộ đội, 16 mét vuông (4x4m), thưng bằng cót ép. Một bên là chỗ gởi xe của một cơ sở sản xuất, một bên là cái kho của đơn vị. Ông trời cũng thương, bù lại, cho đằng trước nhà có hai cây trứng gà (lê-ki-ma) để mẹ có chỗ hóng mát và chăng dây thép phơi đồ.

    Mẹ ì ạch với cái bụng bầu. Sáng sáng mẹ phải đẩy một cái tủ ra cổng đơn vị bán thuốc lá, mì tôm, tem thư và vài thứ linh tinh... Bởi vì lúc ấy đơn vị đã đi vào hạch toán kinh tế rồi, bố không có lương căn bản, họ cử đi làm buổi nào thì có tiền buổi ấy.

    Họ điều bố lên tỉnh Đồng Nai đóng “wa-gông” (là một “cái nhà” ở trong một toa tàu ấy con ạ). Bố đi cả tuần mới về một lần, mẹ ở nhà tự bán hàng nuôi hai mẹ con mình. Bố đi mấy tháng trời, đến lúc mẹ sắp sanh con thì hết việc. Cái đơn vị ấy họ tính toán làm sao mà mấy tháng trời chỉ trả lương cho bố có 190.000đ. Trời ơi! Đã thế họ lại còn đe đuổi cả nhà mình ra khỏi nơi đây đấy.

    Bố con đi bộ đội, lúc ấy cũng được gần 15 năm, mọi người như bố đều được phân nhà tập thể, chỉ có bố là không được, mẹ cũng không biết tại sao!

    Thôi kệ, mặc cho người ta nói xa nói gần, ta cứ vui vẻ sống và phải sanh em bé chứ!
    Cuối cùng họ cũng cho nhà mình một cái... chuồng xí nhỏ chơ vơ, chỉ có bốn bức tường, không mái, cạnh một bãi đất hoang, bẩn thỉu, trong một cái ngách nhỏ xíu.

    Chà, sẽ mất nhiều công sức đây, nhưng mà cũng tốt chứ sao. Ông giám đốc hình như cũng cảm thấy ái ngại, ngậm ngùi thế nào mà ký giấy xuất kho cho nhà ta mấy tấm tôn Fibrô-ximăng nặng trĩu. Vậy là mẹ có con, và ta lại có nhà (dù chỉ là một cái chuồng xí 29m2 cải tạo lại thôi... Bây giờ đã biến thành một căn phòng nhỏ xinh xinh có nền xi măng nhưng vẫn chưa kịp có trần chống nóng).

    Tốt chán, nhà chúng ta vang rộn mỗi khi con khóc con cười, mẹ lại còn “điệu đà” moi đất đằng trước để trồng một cây phượng nhỏ xinh xinh và ao ước: cây phượng sẽ nở hoa...

    Cây phượng bén rễ rồi đấy con. Con đã qua đầy tháng, khóc nhỏ xíu xiu.

    Con bắt đầu ốm lặt vặt, rốn lồi ra một cục. Sợ quá, mẹ bế con vào nhà bác sĩ T. Ông ấy bảo con bị u hạt rốn, phải thắt rốn lại và xử lý một lần nữa. Ông ấy bảo: cái thằng bé này lớn, sẽ lì lắm đây. Bố đi làm bữa có bữa không. Mẹ loay hoay với con mãi, nhất là những khi trái gió trở trời, con ho, con sốt, con mọc kê mọc sởi...

    Đã sắp đầy năm con rồi... Cây phượng đã cao vượt tầm tay, sao con vẫn chẳng lẫy, chẳng bò gì cả, con chỉ ngồi và lết thôi. Mẹ bắt đầu thấy lo lo. Thóp thở con thiệt lớn, không đóng được.

    Ngày đầy năm, vui thiệt: con mặc áo màu trắng, quần màu xanh lơ, và lại còn bày đặt đeo cà vạt đỏ, bố thì bày đặt mua bánh kem về... Sinh nhật con xong mẹ bế con ra xóm Ba Boòng chụp ảnh mẹ và con cùng với một con mèo nho nhỏ. Chẳng quan tâm rằng tiền nhiều hay ít, gia đình mình lúc ấy vui thật, dẫu rằng mẹ cứ mơ hồ thấy một cái gì đó bất an, chờ chực ở phía trước.

    Mà quả thật, chỉ hai tháng sau mẹ con mình bắt đầu bước vào đoạn đời mới đầy sóng gió.

    Hai tháng sau...

    Lá phượng xanh thẫm lại.

    Chiều xuống, bố vẫn chưa về. Mẹ ẵm con đi vu vơ trong con hẻm nhỏ.

    Mẹ nghĩ cũng vu vơ như bước chân mình: mới có hai năm, từ một cô sinh viên mẹ bước vào đời làm vợ, rồi làm mẹ, bỏ lại quê hương và ông bà ngoại, man mác nhớ thương, man mác buồn xa xứ. Mà thôi, nghĩ ngợi chi nhiều. Con ngồi đây nhé. Thả con xuống hiên, mẹ ra sau nhà nơi bãi đất hoang bẩn thỉu hôm nào giờ xanh ngắt rau bạc hà và thẫm vàng hoa mướp (mẹ trồng đó con, mẹ vốn người nhà quê mà), mẹ định bẻ vài trái mướp xào một dĩa nhỏ, đổ thêm chút nước làm canh và nhà mình sẽ có một bữa tối thật ngon lành, ấm cúng.

    Con làm sao thế? Sao lại khóc thét lên? Chỉ lết từ hiên xuống sân, cái bậc hiên không đầy gang tay sao con đau dữ vậy? Mẹ quăng dao, quăng mướp ôm lấy con. Con cứ khóc ngằn ngặt. Trời đã sụp tối, bố cũng chưa thấy về. Mẹ ôm con ngồi thu lu ở hiên.
    Con khóc nhiều cũng mệt, bú một chút rồi con thiêm thiếp ngủ. Bố về rồi! Bố ôm lấy con vì nhớ! Con lại khóc ré lên, có cái gì đó bất ổn thật rồi.

    Mẹ kể lại chuyện con lết xuống sân. Chẳng lẽ... Thôi, không đoán già đoán non nữa, đi bệnh viện thôi, mẹ sợ lắm...

    Cả nhà mình chất lên cái xe Chaly nhỏ. Mẹ ngồi sau ôm con. Đường Thích Quảng Đức năm ấy còn xấu lắm, mỗi lần xe nảy xóc lên con lại khóc. Đường từ nhà mình tới bệnh viện 175 mọi ngày ngắn ngủn mà sao giờ xa quá vậy, đi lâu đến vậy!

    Bệnh viện đây rồi! Mẹ ngơ ngơ ngác ngác. Có một người tốt bụng bảo, bây giờ đã muộn, làm thủ tục nhập viện lâu lắm, vào thẳng nhà ông bác sĩ Huynh - trưởng khoa chỉnh hình - chắc nó bị trật khớp.

    Ông bác sĩ giới thiệu đi chụp X quang gấp. Khốn khổ, con bị gãy xương đùi, mới có 14 tháng mà con bị gãy xương đùi! Lỗi tại mẹ, lỗi tại mẹ, mẹ khóc òa nức nở...

    Bó bột cho con xong, bế con về tới nhà cũng quá nửa đêm, mẹ ngồi canh con. Mẹ khóc, mắt sưng húp như hai trái bàng. Tiếng ông bác sĩ âm u trong đầu: “Thằng bé này có vẻ yếu, cái thóp thở rộng thế này, còn vất vả. Bắt cóc nấu cho nó ăn cứng xương”...

    Thì bắt cóc, vì con mà bắt cóc, đâu có chi đáng sợ! Nói cứng vậy thôi chứ hồi đó mẹ cũng nhát, mẹ đi dọc hàng rào đơn vị, xỏ tay vào bọc nilông. Này con cóc vàng, tao tóm mày về làm thịt nấu cháo cho con tao, bé Hội...

    Chờ mãi, chờ mãi, rồi cũng qua 30 ngày. 30 ngày con không được tắm, mẹ chỉ lau rửa sơ sơ cho con thôi. 30 ngày con nằm ăn, nằm bú. 30 ngày mẹ sống trong cảm giác người có lỗi. Con nằm nhiều lưng mọc đầy rôm sảy, ngón chân nhỏ như hạt bắp lột cả da. 30 ngày mẹ ai oán mình... Nhưng qua rồi con ạ. Nào, chiều nay ta đi cắt bột.
    Ôi ước gì cuộc đời cũng có thể quăng đi mọi khổ đau một cách nhẹ nhàng như chiều nay ta tháo bột quăng đi khỏi chiếc chân nhỏ xinh yêu dấu của con!

    Bế con về, nào mẹ vò khổ qua (mướp đắng) nấu nước tắm, nào hầm xương nấu cháo cho con, nào mẹ mua vàng bạc giấy tiền cúng giải hạn. Phượng ơi, mày rung rinh lá chia vui với cả nhà phải không, em bé tháo bột rồi, vui là phải!

    Nhưng con ơi, niềm vui vốn chỉ là món quà xa xỉ, nó ở với mẹ con mình chẳng được bao lâu... Mẹ nào biết kể từ chiều hôm ấy, tai họa cứ rình rập, lơ lửng trên đầu mẹ con ta. Con đang hồn nhiên, còn mẹ thì đang vui sướng, chúng ta chẳng thể nào ngờ được, đúng không?
    Hãy sống hết mình cho giây phút hiện tại.
    Hãy mang niềm vui đến cho những người xung quanh bạn.
    Hãy chia sẻ một chút may mắn của bạn cho những người khó khăn hơn.
    Hãy làm như vậy, bạn nhé!

  3. #3

    Kỳ 2

    TTO - Từ ấy đến lúc con hai tuổi, con ốm triền miên. Đã thế lại gãy xương thêm vài lượt. Vài lượt gãy xương đủ làm người mẹ trẻ như mẹ phải... đứng tim. Bó bột - nằm viện - kiếm tiền... Mẹ không còn thời gian để khóc trước cái vòng xoáy khốc liệt của số phận nữa.

    Qua hai tuổi, con gãy tay. Chưa tháo bột lại... gãy chân. Con làm mẹ sợ lắm, con trai ạ. Những vị bác sĩ khả kính không ai nói rõ con bị bệnh gì... Chỉ là những toa thuốc đắt đỏ và khó kiếm.

    Lần này người ta cho con lên băng ca đẩy sang bệnh viện Nhi Quốc tế ở đường Lê Thánh Tôn. Con nằm đó, bé tí tẹo, người trắng xóa, bột và bột. Hôm ấy, ngày 20-11, nhà ta may mắn gặp được ông bác sĩ người Tây tốt bụng. Có lẽ ông ấy cũng cảm động vì bó hoa hồng thật đẹp mẹ tặng cho ông (Mẹ học khôn rồi, mẹ nhớ lời ông ngoại: Thầy thuốc cũng là thầy. Vậy 20-11 tặng hoa ông ấy là có lý lắm!).

    Ông cho con chụp X quang từ đầu đến chân. Phòng khám số 5 thật đông, ông Tây và những vị bác sĩ học trò. Họ tranh luận với nhau lâu lắm. Quá chiều, họ mời mẹ vào phòng. Qua lời người bác sĩ phiên dịch, mẹ biết con mang một căn bệnh lạ lùng: Tạo xương bất toàn - còn gọi là “xương thủy tinh”... Căn bệnh quá xa lạ, nhưng những điều nó sẽ gây nên cho con thì vô cùng gần gũi và đớn đau với mẹ: con sẽ còn gãy xương thật nhiều lần, sẽ tật nguyền, mắt con sẽ ngày càng... xanh biếc...

    Ôi con của mẹ, đứa con “Thủy Tinh” mong manh của mẹ!

    Trời trong xanh và nắng vàng của Sài Gòn đều... vô nghĩa...

    Đêm ấy là đêm dài nhất trong những đêm dài của đời mẹ. Mẹ mở cửa rón rén ra ngồi dưới gốc phượng. Con có tin không? Lần đầu tiên trong đời mẹ... uống rượu...
    Uống mà chẳng thể say. Uống mà đầu óc quay cuồng: THUỐC... NGÀY MAI... TIỀN... rồi lại... THUỐC...

    Đúng! Phải có THUỐC! Trong cái toa cầm về chiều nay có tới mấy loại thuốc - tính ra cũng mấy trăm ngàn - đã thế có thứ lại còn không mua được vì... không có. Nhà thuốc bảo: “Hiếm lắm!”.

    Rồi ai sẽ chăm con? Ai sẽ đi làm? Nhà có duy nhất một chiếc Chaly. Mà con thì phải được sung sướng, đủ đầy! Mẹ sẽ đốt cháy cả nhân gian này lên để cứu con! Mẹ gầm gừ, gào thét ở trong lòng như thế đấy!

    Bây giờ nghĩ lại mẹ thấy sợ chính mình trong cái đêm hôm ấy: mắt mẹ đỏ đọc vì mất ngủ, tóc tai bù xù và... đẫm hơi men, chẳng thà như thế còn hơn là phải... khóc.

    Đến 6 giờ sáng, mọi việc trở lại bình thường. Xóm giềng không ai biết ở cạnh mình đêm qua có một kẻ... bị điên. Mẹ lại mặc áo trắng tinh, thả tóc ngang vai, mẹ dắt xe đi kiếm việc làm. Ba sẽ làm ngày và mẹ sẽ làm đêm. Con sẽ có tất cả mọi thứ mà những đứa trẻ ốm đau cần phải có. Con cứ yên tâm! Mẹ hứa mà!

    Mẹ chạy xe chầm chậm qua các con phố: Phan Đăng Lưu, Phan Đình Phùng, qua cầu Kiệu (cái cầu rồi đây sẽ mang nhiều kỷ niệm với mẹ lắm), rồi sang Hai Bà Trưng... Phố phường lộng lẫy quán xá. Những cô ma-nơ-canh mặc đầm dạ hội và cổ đeo vòng ngọc, những cửa hàng bánh thơm ngon, những cửa hàng đồ chơi trẻ em sang trọng...
    Tất cả dấy lên trong mẹ nỗi khát thèm: mẹ muốn con có những đỏ xanh rực rỡ ấy. Muốn vậy thôi, chứ chủ đích là mẹ nghiêng ngó xem người ta có cần người làm không. Đã gần trưa. Ngực mẹ tức sữa. Mẹ nhớ con. Giờ này con có khóc không? Bố có biết đường xay cháo cho con ăn (mẹ cho con bú thiệt lâu vì con yếu ớt, mãi sau này hơn... 4 tuổi con mới tự thôi “bú tí”). Mẹ rẽ sang đường T.Q.T... Mừng quá: có một tấm bảng treo lủng lẳng trước cửa một căn nhà: “Cần người làm”, nhưng sao cửa nhà vẫn đóng im ỉm.

    Mẹ dừng xe, rụt rè gõ cửa. Một người đàn ông già nua và gầy gò với một hàng râu tỉa tót rất đặc biệt nhoài cổ ra đầy vẻ nghi ngờ. Ông nhìn mẹ săm soi và kéo cánh cửa sắt kêu ken két.

    Mẹ đặt bước chân đầu tiên vào một thế giới mới... hoàn toàn xa lạ. Thế giới của lầm than, cay cực của thân phận con người. Thôi hãy khoan viết... Ta sẽ dừng ở đây... Mai ta lại viết tiếp, con trai nhé!

    Mẹ suy nghĩ kỹ rồi con ạ. Mẹ sẽ viết, rất thật. Viết để con ý thức được cuộc sống thật đáng quý, đáng quý từng giờ, từng ngày. Để có từng giờ, từng ngày sống ấy, đôi khi ta phải lăn mình và nhắm mắt đi qua những vũng lầy. Ta vẫn phải đi, đi, không thể dừng lại, dẫu đường có gập ghềnh, chông gai, nhớp nháp...

    Nơi mẹ bước chân vô là một... cái “nhà hàng”. Cái nguyện vọng làm đêm của mẹ được đáp ứng bằng những nụ cười mỉm chi đầy bí ẩn.

    Chỉ hai ngày sau mẹ nhận ngay ra sự việc... Và dẫu việc gì đi nữa, mẹ thầm nghĩ, vì con mẹ vẫn sẽ đương đầu. Nơi ấy ban ngày vắng teo nhưng buổi tối dập dờn những cô áo xanh áo đỏ. Ba hôm đầu họ để mẹ mặc đồ bộ, bưng bê thức ăn cho khách (ở dưới lầu). Cũng không có gì, chỉ có những ánh mắt của nhiều người trên lầu đi xuống nhà vệ sinh - những người to béo và tốt mã, mặt đỏ phừng phừng - nhìn mẹ rất lạ. Những cô ăn mặc đẹp ở trên ấy cả. Bả chủ thì cứ nói “mát”, nói xa, nói gần: “Cần tiền bước vô đây đừng có chảnh!”

    Chị con gái út của bà chủ là một người dịu dàng và tỏ ra... có học. Mấy hôm sau, chị kêu mẹ vào một phòng nhỏ, nơi dành cho các cô thay đồ, nhỏ nhẻ:

    -Chị biết là em thông minh dễ hiểu, chị sẽ “cho” em một bộ đầm. Rửa chân tay sạch sẽ đi, chị dắt em lên trên ấy, cố gắng đừng làm mất lòng họ nghe. Em đang cần tiền, nhà này đâu có cần người làm. Mấy ngày qua để cho em quen dần...

    Mẹ nói thẳng tuột:
    -Thôi, em hiểu rồi, em sẽ bưng thức ăn lên lầu, và chỉ cố gắng làm họ không phật lòng, chỉ có thể thế thôi! Em đã có gia đình, em là một người mẹ.

    Chị thở dài:
    - Chị biết mà, lúc em vào vắt sữa ở la-va-bô chị thấy hết.

    Hóa ra mẹ đã bị giám sát hết rồi! “Không sao, Hương ơi – mẹ tự nhủ với mình - ta sẽ có đủ bản lĩnh để đương đầu”. Tự nhiên mẹ nhớ một câu Kiều (đi làm mướn mà còn lẩy Kiều, mẹ của con là vậy đấy):

    Bắt phong trần phải phong trần
    Cho thanh cao mới được phần thanh cao

    Cái ông Nguyễn Du này, quá... tín nhiệm ông trời đấy. Còn tôi - tôi sẽ tín nhiệm chính mình. Cái ranh giới giữa Phong trần - Thanh cao sẽ phải do tôi thiết lập và gìn giữ. Lúc ấy mẹ bỗng thấy mình già sụp đi mấy tuổi trong tích tắc...

    Mẹ rón rén bước lên trên đó, ngón chân bấu chặt vào đôi dép cao gót đến tê dại. Thế giới ở đó nhập nhoạng từ mọi thứ: nhập nhoạng mặt người, nhập nhoạng đồ ăn thức uống, nhập nhoạng cả mùi vị: mùi bia rượu, mùi thức ăn, mùi nước hoa...

    Bia đổ tràn ra những cốc lớn, ngập ngụa những tiếng cười. Và tiền... Trời ơi! Sao người ta tiêu tiền dễ dàng làm vậy! Một bàn tiệc có khi tính tiền lên đến hàng triệu bạc (thời đó bằng cả hơn hai chỉ vàng đó con). Họ chẳng cho không tiền của họ đâu. Con có biết không, năm ấy mẹ mới 21 tuổi.

    Những đôi mắt nhìn mẹ cứ như là ăn tươi nuốt sống. Nhắm mắt lại, mẹ thấy mắt con to và trong veo trong vắt. Nhắm mắt lại, mẹ thấy những hộp thuốc, can-xi, những hộp sữa giàu dinh dưỡng đang nhảy nhót trong tủ kính... Họ nghiêng nghiêng ngả ngả, chạm ly lách cách, uống đến trợn mắt trợn mày, cười nói ồ à: “Á hà, lính mới! Rụt rè quá, chào bàn đi “bé con””! (Bé con à? Mẹ nghe rờn rợn trong người, cố nghiến răng chịu đựng ở trong lòng). Cái mẹ cần là bước ra khỏi đây mẹ phải có tiền và ngẩng cao đầu kiêu hãnh...

    Vậy thì sẽ “chào bàn” nhé! Này mấy chú, cháu sẽ ngâm thơ và hầu rượu cho mấy chú vậy! Ái chà! “độc” quá! Lại biết cả thơ! Đọc đi em!... Này thì ta đọc:

    Thân em như quả mít trên cây
    Vỏ nó xù xì, múi nó dày.
    Quân tử có thương thì đóng cọc
    Xin đừng mân mó nhựa ra tay

    Ôi cha! Lạ quá. Mít dai hay mít mật vậy em. Bọn anh làm ở hải quan chỉ biết đánh hàng “công” (công-te-nơ đó!), chẳng biết gì về “văn nghệ”! Xếp cho em ngồi cạnh anh Tư - anh làm ngành văn hóa - sếp lớn đó em! (lớn bé để làm gì, rõ là một lũ “chết trong cõi sống!”, trái tim mẹ rít lên).

    Cũng không hẳn là như vậy, những người ra vào nhà hàng ấy đủ thành phần: có kẻ lắm bạc nhiều tiền đến đó như một thú vui, lại cũng có những người đến đó để như kiếm gia vị thêm vào việc ký kết công ăn việc làm, thôi thì đủ cả.

    Cái vốn còm cõi của tuổi thơ thích đọc sách đọc thơ rất nhiều phen có giá trị, nó cứu mẹ khỏi những tầm thường, nhơ nhớp. Những khách hàng ưa thâm trầm đến thường hay hỏi: “Cô bé Bắc Kỳ thơ hay đâu nhỉ?”. Tự nhiên mẹ trở thành “vốn quý” ở cái nơi chợ đời ấy, dẫu rằng không trọn vẹn. Phải cảm ơn Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Nàng Kiều của Nguyễn Du... đã thoát thai, siêu độ từ thuở nảo thuở nao, các bà các chị giỏi giang vắt óc, vắt đời thành thơ để hôm nay mẹ của con có cái mà dụng võ!

    Cũng chẳng phải hiếm phen nhục nhã, khi gặp phải kẻ quá phàm phu tục tử. Thôi đành vậy, cô Kiều tài hoa là thế mà còn phải kêu lên:

    Thân lươn bao quản lấm đầu
    Tấm lòng trinh bạch từ sau xin chừa

    Huống hồ là mẹ, đất khách quê người, nắm trong tay một sinh mạng nhỏ nhoi - con cần phải sống - vậy thì mẹ càng cần phải sống. Sức sống của con người thật bền bỉ phải không con?

    Khuya, mỗi lần ra về mẹ đều dừng ở cầu Kiệu. Nhìn xuống dòng nước đen ngòm và hôi thối, mẹ lại gào lên ở trong lòng: phải sống! Phải sống dù là sống trong cõi chết! Qua cầu là gió bay. Qua cầu là bỏ lại sau lưng bao khổ nhục. Qua cầu là những đồng tiền thấm đẫm nước mắt sẽ thành sữa, thành thuốc cho con. Khi ta đã bước được qua cầu - qua ranh giới của sự tầm thường ấy - là khi ta đã hướng về nơi cõi sống. Ấy là khi Thần Chết phải dè dặt và lui bước trước con người.
    Hãy sống hết mình cho giây phút hiện tại.
    Hãy mang niềm vui đến cho những người xung quanh bạn.
    Hãy chia sẻ một chút may mắn của bạn cho những người khó khăn hơn.
    Hãy làm như vậy, bạn nhé!

  4. #4

    Kỳ 3

    TTO - Con vẫn ốm, vẫn gãy xương, và bó bột... Cái màu bột trắng ám ảnh mẹ suốt. Mẹ cố tránh nhưng tránh không được thì yêu. Mẹ yêu cái màu bột trắng ấy vì con và mẹ còn phải sống với nó hoài. Mẹ vẫn đi về lặng lẽ trong đêm. Bây giờ mẹ phải chịu thêm một áp lực: sự thị phi của miệng lưỡi con người.

    Xóm giềng “eo xèo” rồi đấy! Mặc! Mẹ vẫn lầm lũi đi và lầm lũi trở về. Về nhà khi đã quá nửa đêm, mẹ rúc vào nhà tắm xối nước như điên như dại. Mẹ dùng hẳn bàn chải... giặt quần áo chà xát thân mình muốn rớm máu. Gội đầu khuya riết mẹ bị viêm xoang, viêm đến tận bây giờ, uống thuốc gì cũng không thấy khỏi.

    Ba buồn và trầm lặng hẳn đi...! Mẹ bật điện sáng trưng nhà! Dậy đi anh, dậy nghe em nói đây này: Anh không có lỗi, không hề có lỗi. Ban ngày em trông con cho, có việc gì làm tạm cứ làm, tiền bây giờ là cần lắm...

    - Em ạ, anh vẫn là người của đơn vị. Anh lại là một đảng viên, anh không thể tự ý bỏ hẳn ra ngoài để làm được. Khi đơn vị gọi mà không có mặt, coi như là vi phạm kỷ luật... Tại sao họ lại không giao việc cho anh nhỉ?

    Tại sao à? Chỉ có những người mũ cao áo dài ngày ấy họ mới biết thôi... Họ cố ý hay vô tình dồn nhà mình vào ngõ cụt? Họ có biết người đồng đội cấp dưới của mình đang chịu cảnh khổ đến dường nào? Họ có biết có một người mẹ trẻ con nhà nề nếp, từng bước vào giảng đường đại học, đang chông chênh bên vực thẳm cuộc đời? Cái vô tâm, cái thờ ơ của con người sao mà tàn ác vậy? Đau lắm anh! Tủi nhục lắm anh! Khi mà các bậc “phu nhân” chỉ một vài năm trước còn vật lộn với cánh đồng phèn chát ở quê, hôm nay chồng lên cấp, được cấp nhà mặt phố ở giữa Sài Gòn, một bước lên “bà”. Những “phu nhân” ấy xúm lại xì xầm: Cái con Hương vợ thằng Tân nó đi đâu mà đi suốt đêm vậy nhỉ?

    Đi đâu ư? Đi làm để nuôi con! Làm việc hiền lương và chưa bao giờ ăn cắp! Không sao đâu con ạ... Phút khổ đau, dồn nén, những bất bình rồi cũng trôi qua rất mau... Việc cần làm bây giờ là phải có tiền lo cho con trai đã!

    Bia vẫn chảy tràn như suối. Người ta vẫn vỗ khăn lạnh kêu bốp bốp. Lại có những ông đắp khăn nóng ngùn ngụt khói ở trên đầu. Có lần mẹ bưng một dĩa cua rang me đỏ au đỏ ả, đứng ở cầu thang và quan sát cái sự đời. Mẹ bỗng bật cười, cười rộn rã và chẳng may dĩa cua... đổ văng ra. Phen này thì chết thật rồi! “Bắc Kỳ” ơi, em say rồi đấy hả? Phạt! Phải phạt thôi!”. “Đừng! Em nó bé dại..., tha đi, kêu dĩa khác”... Mẹ cúi xuống nhặt hai con cua đỏ quạch và đi xuống bếp... Đừng có mơ mà bà chủ chịu làm thêm dĩa khác! Bà sai chị bếp rửa cua, bỏ me vào... thắng lại, nêm nếm và rắc lên trên mấy cọng ngò, thế là xong... Và hóa đơn lại được tính thêm một dĩa...

    Hỡi ôi cái sự đời dơ sạch là đâu! “Ồ, bé Hương đã lên rồi! Sao run quá vậy bé? Bình tĩnh lại đi nào! Hát đi em, hát cái bài là lạ hôm nọ đó!”. Hát, ừ thì hát. Mẹ lại véo von:

    Cây trúc xinh... tang tình là cây trúc mọc... ơ...

    Cây trúc mọc... ớ bên bờ ao...

    Chị Hai xinh... Tang tình là chị Hai đứng...

    Đứng ớ... chỗ nào... Cũng thấy... xinh là xinh...


    “Ồ hay quá! Đúng là “chị Hai” thật rồi! Chẳng những không phạt mà còn phải “thưởng” cho chị Hai nữa chớ!”...

    Ở bàn bên cạnh, có một người đàn ông... tròn mắt. Mặc ông ta mắt tròn mắt dẹt. Mặc các người la hét và cụng ly. Thế là đủ. Thế là quá đủ! Kiếm cớ đi... “toa lét”, mẹ... chuồn. Mẹ đi về với con! Sau khi nhắn lại với bà chủ: “Má cho người lên thế cho con, con... đau bụng lắm, con phải về đây! Hình như đau... ruột thừa thì phải!”. Bà chủ cũng “khiếp” nên giục mẹ về nhanh. Chắc bà sợ mẹ... chết ở đó thì báo họa...!

    Mẹ chạy xe Chaly bon bon qua cầu Kiệu. Lần này mẹ không dừng lại. Sông ơi! Có hôi thối hay rác rến cũng mặc mày! Cầu ơi! Qua rồi, ta đi về đây. Trong túi đã có tiền, sáng sớm mai “chị Hai” sẽ đi mua thuốc cho bé Hội! Ừ, thì “chị Hai” đấy, đã làm sao? Thử một lần ma mãnh làm “chị Hai” với đời cho biết! Mẹ bật cười một mình và cảm thấy vui vui.

    Về đến nhà, trời nóng quá, dòm vào mùng, thấy con đang ngủ say, và bố thì phì phạch quạt cho bé (Nhà mình lúc ấy không sắm nổi một cây quạt máy, con à!). Thấy con ngủ ngon, mẹ vui, thấy mát mẻ cả người. Nào, đi tắm thôi, và sẽ ôm con ngủ một giấc dài...

    Đêm đêm làm ở nhà hàng ấy, quan sát mẹ thấy được nhiều điều. Ở trên lầu ngó xuống sân, mẹ thấy ông chủ nhà ngồi thu lu trên ghế. Ông ấy coi xe cho khách kiếm thêm chút tiền đấy con ạ. Tội nghiệp ông ta phải sống một kiếp sống mòn! Là một người nghệ sĩ tài năng nhưng đã già, không còn cơ hội. Thời hoàng kim đã đi qua, không vốn không tiền làm sao có tác phẩm! Con cái thì ngày mỗi lớn, nhu cầu ăn tiêu cao vời vợi, lại lệ thuộc vào cái danh vọng hão huyền, không thể quay về làm một người bình thường.

    Vợ con ông ấy mở cái nhà hàng và tự do tung tác! Thỉnh thoảng ông lại bị bà vợ lôi ra chì chiết. Cô con gái thật đẹp, một mặt vẫn cố ngoi lên hàng học thức, chiều chiều đi học thêm tiếng Nhật tiếng Tây, mặt khác vẫn có những nhu cầu: những bộ đầm, những thỏi son sang trọng! Vậy là thỉnh thoảng vẫn trèo lên xe đi chơi, hoặc ghé bàn ngồi với khách! Ôi sao mà khổ sở. Mẹ thấy mắt ông chủ nhà cúi xuống, mọi sức sống trong con mắt ông ta dường như lịm chết cả rồi. Khổ quá thôi, sao người ta lại tự đọa đày mình và đọa đày nhau đến thế.

    Hóa ra mình cũng chưa khổ mấy đâu con! Mỗi lần nhìn thấy cảnh của ông chủ nhà, mẹ lại tự bảo thầm như vậy.

    Ở nơi ấy còn nhắc cho mẹ nhớ đến một chuyện khác: có một cô tên gọi là Tuyền. Tính của Tuyền rất hiền và ngại đụng chạm. Tuyền hay bị người ta bắt nạt. Có cô mượn Tuyền dăm ba chục rồi lấy mất luôn. Mỗi khi gặp chuyện buồn, Tuyền chỉ biết khóc. Da của Tuyền xanh ngằn ngặt như người chẳng đủ ăn. Tuyền không mấy khi ngồi ở chỗ tụ họp đông, Tuyền sống khép mình lắm.

    Có một lần Tuyền đến nhà hàng tay bị trầy xước, mặt sưng vù. Tuyền bị một vài người bạn cùng làm đay nghiến một chuyện gì đó. Thấy tội nghiệp, mẹ chở Tuyền vào trạm xá rửa và băng lại mấy vết trầy và mua cho cô ấy mấy liều thuốc. Có vẻ tin tưởng Tuyền mới kể cho mẹ nghe: Tuyền cũng đã có chồng. Chồng cô ấy nghiện xì-ke, bán hêrôin bị bắt giam ở đâu tận Bình Phước. Trước khi đi, anh ta đã để lại cho Tuyền một khối ân tình to tướng: ấy là vì phục vụ anh ta, đi mua thuốc cho anh ta chích choác, giờ Tuyền cũng... nghiện rồi (mới hít thôi...). Khổ thân Tuyền quá.

    Chả trách có mấy người ở nhà hàng hay bắt nạt mà Tuyền không dám trả lời: Tuyền sợ mọi thứ, sợ người ta biết, sợ bị đuổi việc... Còn hôm qua là Tuyền bị người ta đánh vì nợ tiền thuốc của người ta, tiền thuốc cho Tuyền, lại còn gửi cho cả chồng Tuyền nữa! Tuyền ơi là Tuyền! Công an mà phát hiện là đi ở tù đó Tuyền à...! “Em cũng sợ lắm mà chẳng biết phải làm sao...”. “Thì trốn đi đâu đó thật xa về tận dưới quê mà cai thuốc...!”. “Vậy thì ai sẽ nuôi ảnh?”. “Nuôi gì mà nuôi. Ở trong tù nhà nước người ta nuôi!”. Mẹ khuyên theo cảm tính vậy, chứ hồi đó mẹ đâu biết gì về những chuyện này...! Nhưng trong lòng mẹ thương Tuyền lắm... Sau này có điều kiện mẹ mới tìm tòi những tài liệu về ma túy, về căn bệnh HIV, mới thấy đáng sợ vô cùng... Thấy cần phải có tri thức để bảo vệ gia đình, người thân đừng có vương vào đại họa đó!

    Nhớ lại chuyện cũ mới thấy: ở đời có biết bao nhiêu người thật đáng thương, và thấy mình may mắn vì dẫu phải sống ở môi trường khốc liệt dữ dội vẫn không bị những con sóng đen ngòm nhớp nhúa cuốn trôi đi con ạ!

    Những tháng ngày làm ở nhà hàng ấy - không ít những nhọc nhằn... Và có rất nhiều kỷ niệm. Có thể rất khó viết ra, nhưng bảo rằng quên thì không thể...

    Gần 15 năm trời, mẹ vẫn nhớ từng chi tiết - thế mới ngấm câu: Miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời. Mà những đòn roi của con người quất lên mẹ, người phụ nữ mới 21 tuổi, đến tận hôm nay gần như còn nguyên vẹn. Mẹ suy nghĩ mãi, thôi cứ viết ra, con có đọc thì hãy ngẩng cao đầu kiêu hãnh bởi mẹ đã dùng cả trí khôn và nghị lực để vượt qua cạm bẫy của con người. Để hôm nay mẹ có thể cười thật tươi mà nói với con rằng: Mẹ vẫn là mẹ, có đủ trí khôn và nghị lực để không rơi vào chốn bùn nhơ, và mãi mãi là người yêu con nhất trên cõi đời này.

    Có một dạo nhà hàng ấy tiếp rất nhiều “khách quý” - những người từ những phương xa xôi trở về thăm lại quê hương - họ nhiều tiền, chi xài thoải mái và... dễ chịu. Một ngày nọ, có một gã trai còn rất trẻ, mặt mũi nở nang, trắng trẻo như con nít bú sữa bình (ý mẹ nói gã trông bụ bẫm và non dại!).

    Rõ là một trẻ ranh, khéo bày đặt chôm tiền mẹ cha đi vung phí. Các cô trong nhà hàng cứ xúm lại bên gã cứ như vớ được cái kho. Gã đến liền một tuần, tỉ tê, tốn kém thế nào mà bà chủ trở nên mềm như... chuối chín, tỏ vẻ trọng vọng gã vô cùng! Có cái mác Việt kiều và một túi tiền là “oai” thế đấy! Thằng ranh con phá của, ngươi mà là con trai ta, ta... bóp mũi chết cho rồi (Ôi trời ơi! Lòng dạ mẹ lúc ấy khó chịu như... bà cụ 70 vậy!).

    Hôm nay mẹ được bà già chủ nhà hàng mời đích danh vào phòng gặp gỡ, không biết bà muốn kiếm chuyện gì đây... Mẹ tự trấn an: mình đâu có tội gì, can chi mà lo lắng. Nhưng, ôi! Nhìn cái mặt bà kìa: cái mặt sao hôm nay trông hiền thế kia.

    Bà tỏ ra nhũn nhặn, ỷ ê với mẹ đến bắt tội nghiệp: “Con giúp má nghe, kẻo má khó ăn khó nói, thiệt cho má mà cũng hại cho mấy đứa chúng mày...!” - Chắc lại gạ gẫm lấy của thằng nhãi một mớ tiền rồi chứ gì...! Những chuyện này, mẹ đã bảo với bà ta rồi: mẹ không phải là đối tượng! Mẹ biết năn nỉ không xong thế nào bà cũng sẽ gào, sẽ hạ nhục mẹ cho thành xấu! Miệng thì dịu thế kia nhưng mẹ thấy mắt bà đã nảy quầng vằn vện rồi đấy! - “Thế nó thích gì ở tôi?” (bây giờ là tôi rồi, đừng hòng con cái gì hết) - “Má không biết! Nhưng nó chỉ “kết” mày thôi. Nó bảo mấy đứa kia y như mấy con ruồi, xúm vào nó hoài, chán lắm...!”. À, thì ra nó thích mẹ vì sự kiêu hãnh. Biết thế, mẹ nói với bà chủ: “Thôi được rồi, má cứ để mặc tôi, tôi làm gì miễn vừa ý nó thì thôi, má đừng ý kiến”. “Má kêu taxi cho con nhé!...” - “Đã bảo rồi, mặc tôi mà...”.
    Hãy sống hết mình cho giây phút hiện tại.
    Hãy mang niềm vui đến cho những người xung quanh bạn.
    Hãy chia sẻ một chút may mắn của bạn cho những người khó khăn hơn.
    Hãy làm như vậy, bạn nhé!

  5. #5

    Kỳ 3 (tt)

    Mẹ rửa mặt rửa tay, trang điểm sơ sơ, lục giỏ xách lấy thêm mấy cái kẹp tóc nho nhỏ (mẹ thích kẹp tóc nhỏ có những hình ngôi sao li ti lắm nhưng hôm nay thì có việc đây, sẽ trở thành... vũ khí khi cần thiết). Mẹ mặc nguyên váy dài tha thướt và ra phòng khách bảo với gã:

    - Từ nãy đến giờ anh vẫn đợi ở đây à? Sẽ chở anh đi chơi một vòng thành phố nhé.

    - Tôi không có xe như ở đây. Bên kia tôi không dùng xe như vậy...

    - Không sao đâu, đi xe của tôi. Được không nào? - mẹ hạ giọng...

    Hắn líu ríu đi theo mẹ. Chaly nhỏ ơi! Hôm nay hãy làm nhiệm vụ chở “chị Hai” đi thực hiện “thông điệp hòa bình” nhé. Ta sẽ cho thằng ranh mập vì ăn nhiều bơ sữa này biết tay chị Hai mới được!

    Mẹ chạy xe chầm chậm qua Nam Kỳ Khởi Nghĩa, gã bắt đầu mở lời rất dịu dàng:

    - Em tên là gì...?

    - Anh đến đó mấy lần mà không nhớ tên tôi à? Tôi là Hương, hương khói đấy!

    - Anh là Tony...

    - Tony... cái gì? Bố mẹ anh không đặt tên Việt cho anh hở?

    - Có chứ... Tên là Bách.

    - Thì cứ gọi là Bách đi. (Chắc bố mẹ nó cũng... tử tế nên mới đặt cho nó cái tên nghe cũng có phần... khí phách! Lòng mẹ thấy dịu đi).

    - Đường này là đường gì?

    - Đường Bà Huyện Thanh Quan...

    - Bà ấy là ai?

    (A cái thằng “oắt con” này có vẻ ham học đây... May cho mẹ rồi. Thế là chưa cần đến “phản ứng tự vệ”. Mẹ đã tính rồi, nếu gã... giở trò, mẹ sẽ... la lên và sẽ sử dụng “vũ khí” kẹp tóc...)

    - À... Bà là một bà giỏi thơ ca và thanh cao lắm... Bà ấy có bài thơ “Đi qua đèo Ngang” đấy, có muốn nghe không?

    Bước tới đèo ngang bóng xế tà

    Cỏ cây chen đá, lá chen hoa...


    Cậu ta có vẻ thích lắm, nói mẹ hãy chở cậu ta qua những con đường mang tên... con gái. Thì đi. Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương. Đến Huyền Trân Công Chúa, cậu ấy bảo, đường này bạn bè cậu ấy... sợ lắm. Mẹ bảo:

    - Còn trẻ, mới hai mấy tuổi đầu, đừng có quá nghĩ đến những cái xấu xa! Có biết không, Huyền Trân Công Chúa là một cô gái đẹp vô cùng. Đã vì cả đất nước mà đem thân đi cống cho Chiêm Thành đấy, biết chưa?

    Cậu ta hỏi:

    - Thế con gái Việt Nam thế nào là đẹp?

    Mẹ bảo:

    - Nói chung, con gái ai mà chả đẹp. Nhưng hình như ông bà mình thì quan niệm thế này là đẹp: “Những người thắt đáy lưng ong, Đã khéo chiều chồng lại giỏi nuôi con...”.

    Thế là cậu ta vơ vào: “Giống Hương không...! Sau này Bách sẽ về lấy vợ ở Việt Nam...!”.

    Mẹ tảng lờ. Mẹ nói chuyện với cậu ta về những tượng đài dù điều này thì vốn mẹ biết ít thôi. Mẹ giới thiệu với cậu ta về tượng đài Phù Đổng, tượng đài Trần Hưng Đạo... Cậu ta ngơ ngác chẳng biết gì... Mẹ hỏi: “Không học lịch sử Việt Nam à?”. Cậu ta bảo không, còn đọc sách lịch sử Việt Nam thì khô khan và... nhức đầu lắm!

    Cậu ấy hỏi trong những gương người con gái, mẹ thích nhất ai? Thích nhất cô Kiều, vì cô ấy ở bên Tàu, được ông Nguyễn Du mang về thành con gái Việt Nam, cô ấy đẹp lắm...

    Cậu ta dốt đến mức hỏi cô ấy ở trong sách... lịch sử nào?! Ôi trời ơi! Cô ấy ở trong một quyển truyện viết bằng thơ Nôm và viết hồi xa lắm, mẹ phải thốt lên với cậu ta...

    Trăm năm trong cõi người ta

    Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau...


    Tóm lại, ngoài cái vỏ hào hoa, công tử bột, còn thì đầu óc cậu ta như một đứa trẻ con sống ở một nơi rất đủ đầy. Và lớn lên theo chu trình giống như người ta nuôi gà công nghiệp... Tự nhiên mẹ lại trở thành cô giáo! Có một câu này cậu ta hỏi mẹ rất... cắc cớ:

    - Sao Hương lại thích những người con gái từ xa xửa xa xưa thế?

    - Ồ... thích thì là thích chứ đâu biết tại làm sao!

    Thôi, đi cũng đã nhiều, phải về thôi. Cậu ta ngơ ngẩn: hay kiếm chỗ nào ngồi một chút thôi. Quanh quanh, mẹ thấy có một cái vườn trẻ. Được rồi, vào đại. Dưới ánh điện sáng trắng tinh, mẹ ngồi đu đưa trên ghế xích đu của trẻ con. Gió thổi ù ù, cậu ta cởi áo khoác ngoài mặc cho mẹ:

    - Hương à, hay là ghé chỗ tôi...

    - Này Bách - mẹ rất chân tình nói với cậu ta - bạn đã chẳng vừa nói, chúng ta đã có một đêm tình bạn tuyệt vời đó sao? Đừng phá hỏng điều đó, dù là trong ý nghĩ. Bách hãy để tôi về. Giờ này con tôi chắc đang khóc vì nhớ mẹ. Ngày mai nếu trở lại nhà hàng hãy xử sự như lẽ bình thường, để đỡ khổ cho tôi, Bách nhé.

    (Tôi nói thêm chút này với Bách: Sau hôm ấy, con tôi yếu, tôi nghỉ làm mấy ngày, nghe nói bạn trở lại mà không gặp, sau đó bạn đi... Nếu vô tình biết chuyện đời tôi, đọc những dòng này, bạn sẽ nhớ, đúng không?)

    Con ạ, những vết roi mà người đời đánh mẹ có cái rất đau, nhưng cũng có những cái biến thành nhữngđiều ngọt ngào và tử tế! Mẹ tin cái cậu Bách đó, sau này có trở về quê hương chắc cậu ấy sẽ yêu quí những tên đường, và thế nào cũng nhớ mẹ. Thế cũng tốt chứ sao, thật là tốt, nếu sống trên đời có thể gieo vào lòng nhau những ngọt ngào chứ không phải là cay đắng!

    Nhớ lại buồn cười lắm... Hồi còn làm ở cái nhà hàng ấy, có những chuyện đến buồn cười...! Con biết không, mẹ đã từng giúp được một người tìm lại được “đứa con yêu” của họ đấy.

    Hồi ấy, mỗi khi đi làm, mẹ luôn thủ trong giỏ xách một chai nước thiệt lớn (loại chai nước ngọt 1 lít 25). Chẳng là khi đi làm về mẹ hay dừng chân ở cầu Kiệu, mẹ lôi chai nước ra, đứng thảnh thơi ở thành cầu, hướng mặt ra dòng kênh... đen thui. Mẹ rửa mặt rửa tay và... súc miệng. Mẹ không muốn tha những mùi, những hơi hám độc địa ở nơi ấy về nhà: mùi rượu, mùa bia... toàn những thứ mùi... xú uế!

    Hay dừng ở đó, mẹ mới thấy, đầu cầu phía đường Hai Bà Trưng người ta đặt những rọ, những lồng nhốt toàn mèo và chó nho nhỏ. Những con vật thật xinh, quý phái, đủ màu nhưng lại lộn xộn, chẳng ra đâu vào đâu, không ăn nhập bầy đàn chi hết...!

    Chủ của những rọ, những lồng ấy là một người đàn ông già già, dáng gầy gò và có vẻ hiền từ, phúc hậu. Ông ấy hay ngồi ở chân cầu ẩm thấp, giáp ngôi nhà xập xệ ven sông. Tất cả không gian toát lên một vẻ u ám, lầm than. Chẳng khớp gì với những chó, mèo đẹp đẽ...

    Thỉnh thoảng, nếu có ai dừng lại chỗ mấy cái rọ, cái lồng, ông ấy mới đi lên, điệu bộ chậm chạp rù rờ, có vẻ cũng... không cần bán lắm (!). Lạ thật! Mèo chó bé tí xíu thế kia thì ăn uống nỗi gì...! Mà ai nỡ làm thịt chúng nó làm chi...

    Mẹ hay tò mò lắm, dừng lại ở cầu nhiều lần, hóa ra thành quen biết. Mẹ mới được ông già giải thích những chuyện rất buồn cười:

    - Mày biết không cháu ơi, ở thành phố này, những người giàu họ nuôi chó mèo thành cái “mốt”. Họ yêu lắm, đặt tên đẹp đẽ hẳn hoi, tắm rửa chúng thơm tho và cho ăn toàn đồ cao cấp. Mấy thằng choai choai đạo chích thấy hở là... bế liền! Chúng ẵm ra đây “ký gửi” tao. Người mất thú yêu ra đây tao lại cho chuộc lại.

    - Chú ghê gớm thật! Thế không sợ người ta tóm chú à?

    - Tóm vì tội gì? Mèo nào chả giống mèo nào! Khộng lẽ lại bỏ tù một người chỉ vì một con chó nhỏ? Mày ơi... họ giàu lắm con! Bỏ ra chút ít thì có nhằm gì!

    - Ừ, mà họ sướng ghê, cháu làm vắt xác nuôi con không xong, họ thừa tiền đi chuộc chó mèo về chăm! Mai ngày cháu mà giàu, dứt khoát sẽ mua một mảnh vườn và nuôi đầy chim chóc, thích hơn!

    - Ối dào, ước ao thế thôi chứ đừng hòng có thật con ạ! Đất chật người đông, kiếm ăn còn khó, sao mày mơ cao thế!

    Chuyện qua chuyện lại cũng vui...

    Có một ngày về quá khuya, mệt quá mẹ ngủ lăn quay. Sáng bảnh mắt nghe có tiếng người lao xao đằng trước.

    - Chuyện gì vậy anh? - mẹ hỏi ba.

    - À... Bà má Đức (một người dân ở gần khu tập thể) bị mất con chó Mực rồi. Bà ấy đang sụt sịt phân bua với mọi người... Có vẻ bà ấy thương con chó lắm.

    À, thì ra là nhà ba má Đức - hai ông bà người Nam Bộ, hồi chiến tranh bị tù, bị tra khảo, chẳng có con, thỉnh thoảng cũng hay nhờ bố Tân sang sửa giùm điện, nước. Ông bà ấy nuôi mèo chó và cả một bầy gà tre nữa. Vậy hóa ra người ta chăm yêu mèo chó đâu hẳn đã vì giàu, mà còn vì buồn, vì cô đơn nữa...

    Mẹ ngồi bật dậy như cái lò xo. Tỉnh ngủ ngay lập tức.

    - Anh ơi, em biết chỗ rồi, dắt xe chở má ra cầu Kiệu nhanh lên...! Thể nào cũng thấy.

    - Sao em lại biết?

    - Hỏi làm gì nhiều, nhanh lên! Nhớ dặn má phải đem theo tiền đấy.

    Ba lật đật đẩy xe ra. Bà già cũng lật dật chạy theo, hối: “Nhanh lên, nhanh lên...”. Khoảng gần một tiếng sau nghe thấy tiếng xe quen thuộc trở về. Rồi lại những tiếng lao xao: bà Đức chuộc được chó rồi... Hai ông bà già rất vui và quên bẵng mất, không thấy nhắc đến món tiền đã tốn vì... chuộc chó.

    Nhà mình cũng được một ngày vui và nhẹ nhõm nhờ câu chuyện con chó nhà hàng xóm trở về. Thích ghê! Người ta sẽ rất vui thích vì những điều đơn giản như vậy, con trai à...!

    (Hôm qua mẹ trở về thành phố, dòng sông dưới cầu Kiệu đã sạch lắm rồi. Khu nhà xập xệ năm xưa đã thay bằng một con đường nhựa xinh xắn ven sông. Trên cầu cũng không còn thấy những lồng chó mèo như ngày xưa nữa...).
    Hãy sống hết mình cho giây phút hiện tại.
    Hãy mang niềm vui đến cho những người xung quanh bạn.
    Hãy chia sẻ một chút may mắn của bạn cho những người khó khăn hơn.
    Hãy làm như vậy, bạn nhé!

  6. #6

    Kỳ 4

    TTO - Mẹ làm ở nơi ấy gần một năm, nói chính xác là 9 tháng 16 ngày con ạ. Vất vả, và... buồn, nhưng cũng không đem lại cho con được gì nhiều. Đã manh nha trong đầu mẹ cái cảm giác cùng quẫn và tuyệt vọng...

    À quên, mẹ chưa kể với con về người đàn ông mắt tròn mắt dẹt khi nghe mẹ hát dân ca hôm nọ, đó cũng là một kỷ niệm đáng nhớ trong đời.

    Mấy hôm sau, con khỏe và mẹ phải quay trở lại nhà hàng. Cũng hơi chờn chợn khi nghĩ tới phút ngông cuồng hôm trước. Mẹ đã chuẩn bị gồng mình để chịu đựng những xỉa xói, mỉa mai của bà chủ. Ồ, ngạc nhiên chưa: Mọi sự vẫn rất êm đềm! Mấy người bạn cùng làm nháy mắt: “Hương có “sếp” muốn gặp riêng ở trên lầu...”. Vớ vẩn! Rõ là vớ vẩn! Mẹ lại muốn mình biến thành con nhím đầy gai. Những ngày tháng ở đấy lúc nào trong mẹ cũng sẵn sàng một bản năng tự vệ.

    Ông ấy chọn một bàn sát bên cửa sổ. Mọi rèm gió đều được ông ấy mở toang. Mẹ chủ động “tấn công”: “Ông muốn gì ở tôi? Muốn hát, muốn cười, hay muốn tôi gào thét...?”.

    Ông ta co người lại như một kẻ biết lỗi bị đòn. Và ấp úng nói... Ông ta nói với mẹ rất nhiều, đại loại là: ông ta một người miền Bắc, đã đến nơi này một vài lần theo bè bạn... Nhận thấy mẹ của con không giống người ta. Muốn biết lý do gì khiến mẹ có mặt ở đây, v.v... và v.v...

    Và điều muốn sau cùng là ông ấy muốn mẹ... hát cho ông ấy nghe một vài câu và cứ coi như là không có ông ta ở đó.

    Sau đó ông ấy còn trở lại nhà hàng đôi lần. Ông yêu cầu mẹ bỏ nơi đó càng nhanh càng tốt. Ông nói ông không thể cho mẹ tiền, vì ông thừa biết mẹ sẽ không bao giờ thèm lấy...! Cuối cùng, ông ấy đưa cho mẹ một cuốn ca-ta-lô và một tờ giấy đính kèm nói về một hãng nước ngoài - hãng Triump, với một tiêu chí rất buồn cười: “Thời trang và hơn thế nữa!” - Ông ấy bảo: “Tôi muốn Hương hãy thử sức mình, vì tôi thấy Hương có khả năng về giao dịch, mua bán đấy. Sao lại không thử? Vả lại tôi sắp đi rất xa. Tôi muốn Hương ra khỏi nơi này, tôi mới an tâm được”.

    Mẹ hỏi mãi tại sao ông ta lại tốt và quan tâm đến mẹ như vậy. Ông ấy nói ông là một kiến trúc sư, và ông ấy yêu cái đẹp, vậy thôi.

    Mẹ lò dò tới đường Đông Du tìm văn phòng của hãng Triump, mẹ gặp được cô Minh, là trưởng nhóm bán hàng. Cô tạo mọi điều kiện để mẹ nhanh chóng có hàng mang đi bán (Con biết không, đó là những thứ hàng thời trang dành cho con gái, đẹp đẽ và đắt đỏ vô cùng). Cô Minh giao cho mẹ một giỏ hàng to tướng, chỉ với một điều kiện đơn giản: cứ sáng đi bán, chiều ghé về nhà cô trả lại tiền gốc. Bao nhiêu tiền lãi để mẹ mang về lo thuốc men cơm cháo...

    Chiếc xe Chaly lại cùng mẹ bon bon trên các con đường. Ông ta nói đúng, mẹ thích nghi với công việc mới rất nhanh. Mẹ quay lại các bệnh viện, mẹ lò mò vào sân bay. Con đường Hồng Hà, khu nhà ở của các nữ tiếp viên hàng không, từng mòn bước chân của mẹ.

    (Con người tốt bụng ấy giờ ở đâu? Thấm thoát mà đã 12 năm. Xin hãy nhận lấy nơi tôi một lời tri ân từ trái tim mình...).

    Mẹ đã cố gắng rất nhiều con ạ, và chẳng dám ước ao gì cao sang. Ao ước con mạnh khỏe, chạy tung tăng ngay trước sân nhà, lũn cũn nhặt hoa phượng rơi tặng mẹ (Ừ, làm lụng suốt, mẹ chẳng nhận ra những búp phượng trước nhà đã quăn lại tức tưởi. Nó sắp ra hoa con trai ạ)

    Con lại làm sao thế, thở khò khè, cứ ăn uống chút gì là ói mửa suốt. Tháng nào mẹ cũng bế con ra y tế phường cân đo mà không thấy lên ký. Sổ khám bệnh cứ mãi dày thêm: Viêm phổi. Suy dinh dưỡng. Rồi lại gãy xương... Hội ơi! Mẹ phải làm sao để con của mẹ mạnh khỏe an lành! Đã sắp bốn tuổi rồi mà con cứ bé tí tẹo. Lại vào mùa mưa nữa, mang hàng đi bán mẹ trùm áo mưa sùm sụp. Mẹ ướt thì được, chứ hàng thì không, con à. Chiều nay mẹ về nhà, nhà lại trống trơn: Bố và con lại vào bệnh viện! Trời ơi lại bệnh viện và bệnh viện, sao lại không một nơi nào khác để cả nhà ta đến vui chơi, thưởng ngoạn?!... Mẹ đổ gục xuống sân như một cái cây bị đốn. Mẹ ốm thật rồi. Mẹ đổ bệnh và con thì đang bệnh!

    “Tình trạng này khó, thằng bé suy kiệt nặng. Anh chị nếu có điều kiện đưa cháu ra vùng biển thì tốt. Biết đâu nó sẽ cứng cáp và phổi sẽ khỏe lên...” - Ông bác sĩ bảo thế.

    Đi biển? Ôi, mơ ước hoang đường! Tiền đâu mà đi biển? (Mãi mười năm sau, nhà mình bớt khó khăn, mẹ mới cho các con đi biển được một lần).

    Không có tiền đi biển, thì mình... lên rừng. Phải đi thôi con! Phải cứu con! Và cứu luôn cả mẹ! Nhìn con nằm thiêm thiếp, lòng mẹ tê tái... Nếu cứ ở đây vật vã mãi với tiền, với bệnh, cứ phải bỏ con mà đi hoài, con chết thì mẹ cũng chết thôi! Mẹ mệt mỏi lắm rồi, cái đầu đau như dần và lồng ngực muốn nghẹn thở... (Đã bảo mẹ cũng bệnh rồi mà! Người ta chẩn đoán mẹ bị rối loạn thần kinh thực vật gì đó).

    - Em mang con đi đây anh ạ!

    - Đi đâu?

    - Đi lên Di Linh (Lâm Đồng)

    - Nhưng tại sao lại là Di Linh?

    - Vì... ở đó mình có người quen, vả lại... khí hậu cũng mát mẻ nữa!

    Mẹ và bố tìm cách bán sạch đồ đạc: này xe Chaly, bếp điện, giường... Những thứ đã gắn bó với chúng ta bốn năm trời, thương tiếc lắm nhưng mặc, người còn là của còn. Ấy vậy nhưng cũng chẳng được là bao. Mẹ treo bảng “cho thuê nhà”, còn bố thì đến ở nhờ nhà ông chú (là một người bà con sống ở Tân Bình).

    Trước khi đi, mẹ dặn bố: “Nếu được thì anh xin người ta nghỉ quách cho rồi! Kiếm món tiền trợ cấp cho đỡ khổ!”

    Cầm mấy chỉ vàng bán đồ đạc lên Di Linh, mẹ con ta dựng một gian nhà gỗ nho nhỏ... Ở ngay cột cây số 168 quốc lộ 20, cạnh trường tiểu học Gia Hiệp.

    Ta gầy dựng một quán nhỏ bán hàng lê-ghim. Bố ở lại Thành phố Hồ Chí Minh kiếm việc làm và thỉnh thoảng bắt xe về thăm hai mẹ con mình...

    Ở đây đẹp thật! Hoa cúc quỳ hoang dại mọc ở khắp nơi. Và hương cà phê thơm ngát. Chúng ta đã ở đó được hai năm. Hai mẹ con mình đã quen dắt nhau vào khu dân tộc K’ Ho để mua bắp, mua bí rợ. Ở đây ai cũng chung một họ: họ K’. Mẹ là K’ Hương, còn con là K’ Tí.

    Những người dân ở đây thật hiền lành, mộc mạc. Họ cũng thương mẹ con mình, thỉnh thoảng lại cho chút này, chút nọ, khi là mấy quả ổi, khi là mấy quả bơ...

    Chiều chiều ta vào rẫy cà phê dạo mát và rèn chân cẳng cho con. Mẹ vẫn không nguôi hi vọng con sẽ trở nên lành lặn. Mặt trời xuống núi, từng bầy trâu khua mõ trở về làng. Ta cũng theo những người dân tộc về nhà. Có những tối, hai mẹ con mình thắp đèn gỗ ngo để sang nhà bên cạnh ăn bắp luộc...

    Hồi đó còn có thêm một kỷ niệm: nhà ta bị cháy (chuyện này, về sau con đã viết ở blog rồi, đúng không?).

    Thời gian trôi thật nhanh, vậy mà đã được hai năm rồi con ạ. Một hôm lên với mẹ con mình, bố bảo: “Cho con về lại thành phố đi em, nó đã sáu tuổi rồi, cho nó đi học chứ! Vả lại, nhà sắp sinh thêm em bé, không lẽ... ở mãi trên rừng?”.

    Chào nhé cao nguyên! Chúng ta lại đi về thành phố. Lại một núi những khó khăn, và CUỘC HÀNH TRÌNH CỦA GIA ĐÌNH MÌNH vẫn không dừng lại...

    Lên Lâm Đồng, mình ở huyện Di Linh, xã Gia Hiệp. Hai năm ở đó, chúng ta sống rất bình yên, tuy rằng con cũng bị nhập viện Di Linh mấy lượt: Khi thì té bong gân, trật khớp, khi thì ho nóng sốt... nhưng cũng không quá nặng nề. Mẹ cũng thanh thản hơn, bởi vậy cũng quan sát được những điều bổ ích.

    Nơi mình ở người Kinh sống xen với đồng bào người dân tộc. Nhà mình mua đất của ông bà già dân tộc K’ho. Quan sát bà con sinh sống mẹ mới nhận ra: người ta rất hạnh phúc bình yên, vì người ta không biết tới bon chen, và sinh hoạt rất đơn giản. Đồ đạc của họ chủ yếu đan bằng tre, họ tự tay đan lấy. Những cái típ đựng cơm, những cái gùi đi rẫy đối với mẹ có nhiều ý nghĩa: Mẹ nhận ra người dân tộc có một nền văn hóa rất riêng, nếu được gìn giữ, bảo tồn sẽ bộc lộ một triết lý rất hay trong cuộc sống. Con người họ rất đặc biệt, không thấy họ buồn bã bao giờ. Ngay cả khi chết họ cũng chỉ coi là đến một chốn khác! Người sống chia cho người chết đồ đạc một cách rất công bằng, lại còn dựng cả nhà trên mộ của người chết nữa! Vậy ai bảo rằng chết là hết chứ! Họ thật là tình nghĩa, đúng không con? Bao giờ con khỏe lên, ta sẽ cùng nhau về lại nơi đó một lần con ạ.

    Mẹ ở gần họ, lòng bỗng trở nên đơn sơ, bỗng rất thích cuộc sống quê mùa, rừng rú, thích tới mức đã hứa rằng ở đó luôn, và ước giống như họ. Thật sự nếu bố con không mang sự học của con ra thuyết phục, mẹ sẽ chẳng về lại thành phố nữa đâu! Càng ngày mẹ càng ngẫm nghĩ đến hai chữ vô thường. Sẽ rất nhẹ nhàng, sẽ rất bình an nếu người ta đến gần được hai chữ đó.

    Mẹ vẫn nhớ câu chuyện: nhà mình ở gần một gia đình tên là bác K’ Liếp. Bác ấy là người Kinh, sống lâu ở đó sắp trở thành người dân tộc đến nơi, da dẻ đen sạm. Ngày ngày bác vác “xà bách” đi làm rẫy cà phê... Bác đã cho mẹ một bài học rất lớn trong cuộc sống.

    Mẹ bác ấy sinh ra đông anh em lắm, nhà lại rất nghèo. Một mình bác vào Di Linh phát rừng làm rẫy. Sau mười năm, có chút sự nghiệp, bác ra Bắc đón mẹ với các em vào. Bác cắt rẫy chia cho người thân, còn bác ở chung với bà mẹ già cả, khó tính.

    Vợ bác tức lắm, mắng mỏ bác và... khóc quá chừng! (Mà lại toàn sang mắng mỏ ở... nhà mình, vì nếu mắng ở nhà, sợ bà cụ đau buồn, mà mỗi lần đau buồn, bà ấy lại gào lên đòi...tự vận). Mặc bác gái kể lể, bác trai cứ rủ rỉ tỉ tê rằng: mẹ mình, em mình, làm sao để họ đói được... Bác gái khóc chán rồi cũng phải... nín. Bác gái bảo với mẹ: “Bỏ nó thì không được rồi... Còn nếu tức quá phát ốm, hóa ra mình thiệt!”, Xong hai người lại tiếp tục rủ nhau đi cuốc đất coi như không có chuyện gì.

    Đến mùa hái cà phê, họ lại... cãi nhau vì bác trai lấy tiền đi sắm sửa cho mẹ, mua cho em thứ này thứ nọ. Hay cãi nhau như thế mà họ có tới mấy đứa con, đứa nào cũng... thò lò mũi xanh, nhưng không bao giờ phải đi bệnh viện. Ồ, lạ thật!

    Mẹ học được ở hai bác ấy cái đức hy sinh, cả một tấm lòng biết sống cho người khác. Dù họ ít học, dù họ đen đủi lấm lem nhưng họ đã in vào lòng mẹ hình ảnh về những con người sống cao thượng...

    Mình bồng bế nhau về thành phố. Mẹ sắp sanh em bé rồi.
    Hãy sống hết mình cho giây phút hiện tại.
    Hãy mang niềm vui đến cho những người xung quanh bạn.
    Hãy chia sẻ một chút may mắn của bạn cho những người khó khăn hơn.
    Hãy làm như vậy, bạn nhé!

  7. #7

    Kỳ 4 (tt)

    Trở lại nhà cũ sau hai năm. Mẹ con ta ngơ ngác hóa ra người xứ lạ. Xung quanh nhà mình biệt thự san sát. Con hẻm nhỏ trở thành đường nhựa. Đơn vị dời vào sân bay. Khu đất quanh nhà mình họ chia và bán toàn cho những người quyền thế. Cây phượng nhà mình bị họ đốn tróc rễ để giành... từng xăngtimét đất. Cái ngách vào nhà mình bị móp méo, tối om (vì ông phó giám đốc uy quyền đã đổ ban-công lấn hết cả không gian rồi con ạ). Cái cảm giác gieo vào lòng mẹ là sự ngột ngạt. Nhà ta trở nên xấu xí và lọt thỏm giữa bề thế xa hoa. Những người cao trọng ở quanh ta, có lẽ họ chẳng muốn nhà mình ở đó, mẹ cảm giác rõ như vậy.

    Con của ông phó giám đốc cũng bằng tuổi con (cũng sáu tuổi và sắp vào lớp một). Mẹ thấy thỉnh thoảng hai đứa cũng chơi với nhau. Con ngọng nghịu khoe: “Bạn Thành có đồ chơi điện tử - trò chơi “câu cá” - thích lắm mẹ ạ!”. Mẹ im lặng, cúi xuống giỏ đồ khâu, mẹ dứt nốt mũi chỉ sau cùng: mẹ đang may tã chuẩn bị đón em. Mẹ biết ý thích của con, nhưng mẹ đành im lặng.

    Mẹ đã chết sững khi có một ngày, con lầm lũi khập khiễng đi về... Con bảo: “Bạn Thành nói bạn ấy không cho con chơi nữa, vì mẹ bạn ấy bảo nền nhà bạn đẹp, gạch men trơn lắm. Hội đừng có vào vì chân Hội ra mồ hôi dơ nền nhà, rồi lỡ Hội té què, rắc rối!”

    Mẹ ôm con vào lòng. Trái tim mẹ có một nốt chai đá đầu tiên. Sự thù ghét con người hết sức cụ thể. Chuyện này cũng là một lý do mà sau này khiến mẹ có một cách hành xử rất “buồn cười”: yêu và chơi với... trẻ con thôi. Không muốn kết bạn với người lớn nữa. (Và, con nhớ không, mỗi lần thay đổi nhà cửa, việc đầu tiên là mẹ đi mua... gạch cẩn nền và bao giờ mẹ cũng hỏi ý kiến của con rằng màu sắc gạch như vậy, con có thấy vừa lòng chưa?).

    Bố vẫn đi làm công nhật, từng ngày. Hôm đau bụng chuyển dạ, mẹ ì ạch dắt con vào BV Nhân dân Gia Định. Đi được nửa đưởng, đau quá, mẹ mới kêu xe ôm. Mẹ... tiếc tiền (!).

    Tới nơi, mẹ gửi con cho mấy cô bác sĩ trực. Mẹ nhờ họ cho con ăn uống rồi mới chịu đi sanh.

    Con ăn bánh quy và lăn ra phòng trực của bác sĩ ngủ ngon lành... Và mẹ thì yên tâm đi... sanh em bé. Kỷ niệm này thật đáng nhớ, lúc ấy là tháng 3-1997.

    Bé Khoa, em của con, thiệt tội nghiệp, phải nếm mùi gian lao trần ai quá sớm. Bế em từ bệnh viện về, bố mua gỗ đóng vội thêm một bộ vạt giường (vì đồ đạc đã bán hết rồi, còn gì đâu!).

    Em được ba tháng, mẹ thấy nhà mình hay có khách. Có một vài người đến gặp bố một lúc rồi đi. Bố thì càng ngày càng... lầm lì và hay uống rượu một mình khi đêm vắng.

    - Có chuyện gì thì anh phải nói ra chứ?

    Bố thở dài sườn sượt. Quanh co một lúc rồi cũng phải khai:

    - Nhà mình nợ nhiều lắm rồi... Khoảng 14 triệu...

    - Nợ những khoản gì?

    - Những ngày em ở Di Linh, anh vẫn không có việc. Những khoản gửi lên “tiếp viện” cho hai mẹ con, anh đều vay cả. Thêm nữa, khi họ phân lại đất cát còn định lấy thêm phần trước hiên nhà mình. Họ gây khó khăn, anh phải vay tiền đi lo cho người ta để giữ lấy tí sân, có chỗ cho con cái nó chơi sau này. Khoản ấy cũng mất gần 2 chỉ.

    (Trời ơi! Kẻ ấy bây giờ vẫn còn đó, vẫn đang “lù lù” ở sân bay. Không biết hồi đó làm khổ nhà mình rồi họ tăng trọng lên được mấy kí-lô không nhỉ?).

    Đáng ghét quá! Khổ quá! Thôi, anh cứ an tâm, để ngày mai em nghĩ kế. Giờ thì cứ ngủ đi... Còn phải sống, còn phải làm. Giờ đã hai đứa con, đổ ốm xuống là chết cả!

    Đêm ấy, mẹ thao thức... Loay hoay với câu hỏi: 14 triệu? Gần 3 cây vàng? Không giải quyết nhanh, lãi chồng lên lãi... Là chết!

    Nhìn qua nhìn lại, thấy tài sản không còn gì để bán. Đã thế mới đầu mùa mưa nhà đã dột lỗ chỗ. Nhà! Đúng rồi, nhà! Nhà là tiền, là của. Bán nhà đi là nhẹ nợ! Khỏi phải buồn phiền!

    “Bán nhà... Bán nhà...”, mẹ lẩm nhẩm một mình và ngủ thiếp đi...
    Hãy sống hết mình cho giây phút hiện tại.
    Hãy mang niềm vui đến cho những người xung quanh bạn.
    Hãy chia sẻ một chút may mắn của bạn cho những người khó khăn hơn.
    Hãy làm như vậy, bạn nhé!

  8. #8

    Kỳ 5

    TTO - Sáng mẹ dậy sớm, pha một bình sữa đầy giao cho con, dặn: “Em dậy mà khóc con cứ cho em bú bình. Mẹ đi sẽ nhanh thôi”.

    Dạo này con giỏi lắm rồi, đã giúp mẹ được khối việc. Chụp lên đầu cái nón lá, mẹ lầm lũi đi ra đường Nguyễn Văn Đậu. Mẹ tìm đến mấy điểm “cò” nhà đất. Mẹ bỗng thấy mình giống chị Dậu (nhân vật trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố) quá chừng. Chị Dậu hồi xưa đi tìm đường bán chó, bán con, còn mẹ thì đi tìm cách bán nhà... Kể ra mẹ vẫn sướng hơn chị ấy!

    Mẹ tìm được một điểm “cò” nhà đất của một ông tên là ông Sáng - ông này có vẻ rành rẽ giỏi giang. Ông bảo: “Gửi ở đây bán rất nhanh, giá cả bao nhiêu để chú còn ghi lên bảng niêm yết”.

    Mẹ ngơ ngơ ngác ngác: “Thì chú tính là được bao nhiêu?”. Ông ấy bật cười: “Cháu bán nhà mà không biết giá cả thì chú biết đường nào... Thôi! Lên xe chú chở về, tiện thể chú sẽ xem xét nhà luôn thể!”.

    Về đến nhà, mẹ bế vội lấy Khoa (con đái ướt sũng cả lưng rồi!), cập rập lau mình lau mình mẩy em và cho em bú... Ông cò Sáng chắp tay đi đi lại lại... Chẳng cần nói, nhìn một lượt là ông ấy biết ngay tình cảnh nhà mình. Ông phán chắc nịch: “Nhà này chỉ có cái xác, không tính! Lợi ở bộ hồ sơ và đất thôi! Chú sẽ đăng cho cháu 25 cây vàng. Thủ tục giấy tờ bên cháu phải lo tất!”.

    Không đầy một tháng sau mình bán được nhà. Cái ông cò này thế mà giỏi! Mẹ nghĩ vậy. Người ta đặt cọc cho nhà mình sau khi đã kỳ kèo bớt xén. Trừ tiền cò quạ, thuế má, mình chỉ còn hơn 20 cây thôi! Thế là cũng tốt lắm rồi! Mẹ với bố cùng gật gù hỉ hả.

    Bây giờ nhớ lại mẹ thấy vẫn buồn cười. Lần đầu tiên bán nhà mẹ đâu có biết lại phải đi nhiều nơi và tốn nhiều tiền như vậy! Đi phường, đi quận, đi vẽ, đi đo, rồi đi công chứng... Sang bên phòng thuế, đóng thuế trước bạ, thuế chuyển quyền, chưa kể đóng những thứ linh tinh như ủng hộ xóa đói giảm nghèo cho phường cho xã... Vậy mà cũng lật bật mất cả tháng trời đấy con ạ! Mỗi lần đi lo việc, mẹ gởi con ăn cơm ở nhà ông bà Vân gần đó (gia đình ông bà người Nghệ An ấy rất tốt với gia đình mình). Còn mẹ thì ẵm theo Khoa và đi xe ôm để lo các thủ tục. Thằng bé Khoa này, nếu mai sau lớn, có lì thì cũng phải, bởi mới bốn tháng trời đã rong ruổi cùng mẹ khắp nơi!

    À suýt quên, có một kỷ niệm này: Vừa tức vừa buồn, nhưng lại giúp mẹ được một bài học khôn. Mẹ phải ghi lại ở đây kẻo quên thì uổng lắm! (Đầu óc mẹ bây giờ rất hay quên - chắc già nên đâm ra lẩm cẩm...).

    Chẳng là hồi đó nhà mình vừa mới ký giấy xong, cầm vàng được một đêm, sáng ngày ra thấy người ta rầm rập kéo đến, hỏi thăm nhà 3/23 hẻm 25 đường Nguyễn Văn Đậu... Ô lạ quá! Đúng nhà mình rồi! Họ đến nhà mình và tay ai cũng nhăm nhăm một tờ báo Tuổi Trẻ! Chết rồi! Mẹ tá hỏa khi biết: họ đã đăng bán lại nhà mình tới 38 cây vàng! Họ cùng với ông cò “hợp tác” với nhau nói dối mình rồi! Thế mà họ bảo họ nghèo, mua về ở. Lại còn ỷ eo bớt lên bớt xuống. Tức thật! Tức chết mất! Chắc lúc ấy sự tức giận, khổ sở của mẹ cũng ngang với... Chí Phèo (nhân vật trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao) bị thất tình nên hầm hầm vác dao đi tìm ông Bá Kiến!

    Nhưng mà mẹ đâu có chết được, vì ngu dại! Bài học đầu đời về việc làm ăn được trả giá bằng hơn... chục cây vàng cơ đấy! Thua keo này ta bày keo khác! Mẹ quyết định mua một con vịt quay vàng rộm, béo múp béo mầm. Mẹ gọi điện thoại cho vợ chồng người mua nhà tới ăn một bữa chia tay. Mẹ không than trách nửa lời (bởi than trách thì được ích gì cơ chứ). Mẹ cảm ơn vợ chồng nhà họ đã mua nhà và gỡ rối cho nhà mình lúc khó! Bà vợ khoái lắm mới nói thế này:

    - Anh chị đăng báo vậy thôi, chứ chắc gì đã bán được giá đó! Hương con cái oặt oẹo thế, làm gì nổi! Để chị bày cho: vốn của em ít, chịu khó về mạn Gò Vấp tìm mua lấy cái nhà xập xệ, sửa lại đăng báo bán!

    - Em sợ lắm! Mình có quyền gì mà dám lên tòa báo?

    - Nhỏ này ngốc thật! Đây là đăng quảng cáo, là mình nộp tiền chứ có nhờ họ đâu, rõ chưa? Báo Tuổi Trẻ ở đường Lý Chính Thắng đó, hết trăm mấy một kỳ.

    Mẹ giả cách ngơ ngơ ngác ngác nghe câu được câu mất, chứ thật ra trong đầu đã in “chết” những lời lẽ của người đàn bà giàu có, khôn ngoan ấy. Phải học khôn! Phải bắt tay vào làm! Phải cố gắng rửa cái nhục đói nghèo ngu dốt! Phải học... Nói đến học mẹ mới giật mình: kiếm nhà mới cho nhanh, để còn xin cho con đi học nữa chứ! Giờ đã tháng 7 rồi, chỉ hai tháng nữa thôi là con vào lớp một. Phải học thôi Hội à! Ốm cũng học! Què quặt, khập khiễng cũng phải học! Không học, ngu hơn người ta là nhục! Mẹ vừa lọ mọ dọn “bãi chiến trường của buổi học khôn” vừa nói với con trai như vậy, con còn nhớ không?...

    Cuộc đời vốn chẳng như mình mong muốn, con ạ. Ôm ước mơ thoát khổ thoát nghèo, mẹ chất chút đồ đạc và các con lên xe về Gò Vấp. Nhìn nhà mình lúc đó buồn cười lắm. Mẹ trùm khăn, che nón lá, một tay ôm Khoa, một tay giữ Hội cho chắc. Cái xe ba gác máy nổ banh banh và lồng lên xòng xọc. Ba mẹ con mình ngồi rung rinh ngất nghểu ở trên, ở dưới là quần áo mùng mền và mấy thứ đồ lỉnh kỉnh. Bố thì đạp xe đằng sau lọc cọc, nhấp nhô. Xe ra khỏi khu biệt thự nhà các quan rồi đấy! Có mấy quan bà nhìn theo kìa! Chắc là họ mừng lắm, vui lắm! Vì cái nhà lính thường duy nhất đã “bật” đi rồi.

    Mai mốt chủ mới về, người ta cất lại nhà lầu, khu phố quan tha hồ đẹp đẽ, xóa mất hẳn dấu vết ngôi nhà xập xệ nhưng đầy yêu thương của mình, ngôi nhà được khởi nguồn từ chuồng xí năm nào. Nhà ơi, ta yêu mày, đã rất yêu. Bởi nơi đây hai đứa bé con ta đã chào đời. Bởi nơi đây ta có vô vàn kỷ niệm. Bởi nơi đây có một cây phượng hồng đã chết. Vĩnh biệt là vĩnh biệt, nhà ơi, không ngoái lại làm chi... Thôi không buồn nữa, chúng mình phải đi thôi con ạ...

    Vậy là đã đến nhà mới rồi! Một căn nhà cũ kỹ ở phường 17, Gò Vấp. Đường vào nhà là một con hẻm quanh co, luồn sau lưng một ngôi chùa, chùa Kỳ Quang. Đến nơi rồi, mẹ đặt hai con xuống, ta dọn đồ. Mẹ làm ù một mâm cơm chào hàng xóm láng giềng. Ta vui mừng ở ngày đầu tiên trong ngôi nhà mới. Bây giờ nhà mình đã trở thành thứ dân theo đúng nghĩa rồi. Xung quanh mình đều là những người nghèo. Người đi may vá, người đạp xích lô, lại còn có một bác đi làm nghề võ sĩ.

    Bố cũng đã nộp đơn xin thôi việc rồi. Ừ, thôi thì thôi, thôi nhanh lên có gì mà phải tiếc. Sáu, bảy năm thất nghiệp chưa đủ hay sao? Mẹ càu nhàu với bố như vậy. Mẹ chỉ muốn bố nhanh chóng đoạn tuyệt với cái đơn vị ấy, dù sau này đói khổ cũng thanh thản nhẹ nhàng... Mình sẽ sống giữa nhân gian, hòa với nhân gian. Nhân gian trong mắt mẹ là số đông những người bình thường, vất vả nhưng hiền lương, biết yêu thương và chịu đựng...

    Sự bình an cũng ở được trong gia đình ta vài tháng. Con vào lớp một, nợ nần mẹ đã trang trải xong. Buổi tối nhìn bố và các con ngủ ngon, mẹ lặng lẽ ra ngoài hiên ngồi suy nghĩ. Mẹ biết đêm an bình, yên tĩnh này chẳng kéo dài được bao lâu... Căn bệnh của con vẫn không có đường chữa trị, lại thêm chuyện đi học ở trường nguy cơ gãy xương của con là lớn lắm... Em Khoa còn bé, công việc của bố cũng chưa ổn định. Cái bình an này hỏi kéo dài được bao lâu?

    Mẹ sắp xếp, dự tính ở trong đầu: chút tiền dư còn lại mẹ sẽ dọn một quầy tạp hóa nhỏ để kiếm thêm tiền chợ và cũng để tăng thêm trị giá của căn nhà. Chứ còn sao? Nhà mà vừa ở vừa buôn bán được, ai chả thích! Rồi mẹ sẽ đi thăm thú điều nghiên tình hình ở khu vực này, để khi bán được nhà ta sẽ mua quanh quẩn ở đây cho con còn đi học.

    Tất cả đã ở trong tư thế sẵn sàng đón nhận. Mẹ vẫn vui và nhà vẫn rộn tiếng cười...

    Những ngày đầu mon men chuyện mua bán nhà kiếm tiền để sống, mẹ đã ngây ngô, ngu dốt đến rất đỗi buồn cười. Kiếm được người mua nhà rồi, nhưng ngặt nỗi ở chưa bao lâu đã bán. Lúc đặt cọc, mẹ phải mời ông tổ trưởng dân phố làm chứng. Ông rất nhiệt tình, rất cảm thông với gia đình mình. Ông bảo: “Này Hương, bác bày cho cháu: trước khi nộp hồ sơ, thì ghé qua cô nhà đất phường một tý. Nhà cô ấy ở đường... số...”. Mẹ dạ vâng râm ran. Nghĩ sẽ có được món tiền dư ra khi bán nhà để lo cho “cậu nhỏ thủy tinh” của mẹ, lòng mẹ cứ tươi hơn hớn.

    Mẹ bàn với bố: “Anh này, người ta là cán bộ, lại là nữ nữa, mình phải mua một món quà gì cho có ý nghĩa một chút...”. Bàn bạc mãi, bố và mẹ quyết định: Mua một lọ hoa khô... Bấy giờ hoa khô quý lắm, chơi hoa khô là một thú chơi sang cả. Mẹ quày quả trở lại đường Nguyễn Văn Đậu, tìm gặp anh chị Hải Dung, là chủ shop hoa khô Phương Dung rất nổi tiếng ở đường Hai Bà Trưng. Mẹ ngỏ ý với anh Hải là muốn có một món quà trang nhã, thanh tao. Anh đáp ứng ngay: “Được, anh sẽ cho lính cắm cho em một lọ hoa hết biết luôn!”.

    Đẹp thật, những cành hoa khô cắm trong một chiếc ly thủy tinh cao quả là một tác phẩm nghệ thuật. Bình hoa đẹp đến mức khi mang về nhà mẹ đã đem chưng lên bàn ngắm nghía cả ngày và mẹ đã “chơi sang” (sẵn có tí tiền đặt cọc của người mua nhà), gọi ngay ông thợ chụp hình bấm một kiểu bé Khoa bên chiếc bình bông ấy. Xong rồi mẹ mới chịu mang bình bông đi gói quà đàng hoàng, thêm một cái nơ to.

    Lòng rất vui, mẹ đĩnh đạc mang món quà đến nhà chị cán bộ và thầm nghĩ chắc chị sẽ rất hài lòng với tác phẩm nghệ thuật này... Nhưng không, ừ thì chị cũng có vẻ ân cần đấy, nhưng khi nói đến chuyện hồ sơ, chị lại lạnh tanh: “Gia đình cứ mang nộp ở phường nhé”...

    Sáng hôm sau mẹ ra phường sớm nộp hồ sơ. Và hồ sơ cứ thế nằm im ỉm, mẹ chờ đợi mãi nhưng chả thấy chút tín hiệu gì đáng để mừng vui.

    Lo quá, lo phờ phạc cả người. Tiền cọc mẹ đã nhận của người ta rồi và cũng đã tiêu mẻ vào đó một mớ. Nóng lòng, mẹ đến gặp ông tổ trưởng hỏi ý kiến. Ông hỏi:

    - Vậy chớ mày có lo quà cáp gì chưa?

    - Có chứ, cháu đã mua tặng cô ấy một bình hoa khô đẹp lắm...

    Bất ngờ, ông tổ trưởng cười phá lên và “chửi” cho mẹ một trận tơi bời:

    - Trời ơi, Hương ơi là Hương ơi, đi làm hồ sơ nhà mà hoa khô với hoa khiếc, rách việc. Đơn giản là cháu làm... một cái phong bì. Sao ngu thế, cháu bán được cái nhà lời ra bao nhiêu, người ta biết hết, giấu làm sao được. Hạt cát mà rơi xuống đất họ còn biết nữa là. Làm một cái phong bì đi, bỏ vô chừng... Ở phường này là dễ đấy cháu ạ, người ta nhận, vui vẻ làm cho, chớ chỗ khác, tiền thì tiền nó cũng đày cho tơi tác ra...

    Thế là những đồng tiền thơm phức được rút ra soàn soạt, được chui vào một cái phong bì và được bay đến nơi cần phải đến. Đồng tiền bay đi thật là hiệu quả: Mấy ngày sau mẹ đã hí hửng nhận lại cái hồ sơ, có lời chứng thực, có dấu son đỏ chót...

    Thế là mẹ có thêm một bài học: Trên đời này, có nhiều chỗ nghệ thuật không hợp với lòng người. Những chỗ ấy, nghệ thuật nhất chính là cái phong bì vuông vuông, không cần đề chữ gì câu gì bên ngoài, quan trọng là bên trong nó chứa đủ một con số tỷ lệ phù hợp với lợi tức mà mình kiếm được hay không...

  9. #9
    Kỳ 5 (tt)

    Con vào lớp một mới hơn một tháng đã lại gẫy tay! Mẹ biết con đau đớn vô cùng, muốn nghỉ học, nhưng mẹ đã nói với con, phải chấp nhận thôi, tránh làm sao được. Mẹ ra trường gặp các thầy cô giáo để trấn an: “Căn bệnh của con tôi là vậy, mong các thầy cô cứ cho cháu học tiếp. Mỗi lần có chuyện gì xảy ra với cháu, chỉ xin các thầy các cô liên lạc gấp với gia đình”. Mẹ không muốn các thầy cô giáo chịu áp lực về bệnh tình của con. Con gãy xương hoài, đi học đeo bột thường xuyên. Riết rồi cũng quen. Khi đã quen, cảm giác nặng nề cũng vơi bớt...

    Mẹ phải tiếp tục lao vào việc kiếm tiền để đương đầu với bệnh tình của con, với sự sống của con, với tương lai của con và em Khoa nữa... Bây giờ thì mẹ đã bớt đi sự dại dột, đã biết đi thăm đất từng khu, giá cả thế nào, biết tính giá nhà là giá trị thực cộng chi phí giấy tờ, cộng tiền cò quạ và thêm phần lợi tức...

    Con có nhớ không? Ta đã ở dọc đường Lê Đức Thọ suốt tám năm, đã bán nhà mười lần và con đã gãy xương tới 27 bận... Cuộc sống ấy không thể nào là nhẹ nhàng! Đã có rất nhiều, rất nhiều chuyện xảy ra, rất nhiều những con người mà ta gặp gỡ, giao thiệp, có rất nhiều những nỗi đau và thương tổn mà mẹ phải chịu đựng... Nhưng cũng có vô khối những niềm vui, dù nho nhỏ... Chỉ để đổi lấy một điều: Con sống. Con được đi học. Con được yêu thương và được chăm sóc đủ đầy. Dẫu gia đình ta không có được một mái nhà yên ổn, nhưng chúng ta vẫn có nhau, vẫn tồn tại giữa đời này...

    Kỳ 6

    TTO - Những tháng ngày sống dọc tuyến đường Lê Đức Thọ mẹ làm đủ việc để kiếm tiền. Có lúc suy sụp, vốn liếng không còn, con lại ốm đau không thể bỏ con mà đi lâu, mẹ xoay ra bán rau muống!

    Rất nhiều người họ sẽ coi đó là một công việc bệ rạc tầm thường, nhưng với mẹ thì không, lúc đó công việc ấy với mẹ là hợp người hợp cảnh nhất.

    Nguồn rau muống thì ngay cạnh nhà mình rồi. Bác Giá, chủ ruộng rau, vẫn mượn sân nhà ta để bỏ mối rau cho những người đi bán. Một bó rau muống lớn là hai ngàn đồng, người mua lại san ra làm bốn bó nhỏ, mang xuống chợ rau đêm bỏ lại là tám trăm đồng một bó, vị chi bốn bó là ba ngàn hai. Mẹ tính nếu lấy hai chục bó lớn, bỏ mối thì cũng kiếm được hai mươi bốn ngàn. Từ nhà mình lúc ấy ra cầu trường đai gần lắm, xăng cũng không tốn là bao. Bán hết mớ rau là mẹ có được một buổi tiền chợ.

    Bán rau muống đêm vừa có tiền mà lại còn vui nữa, mẹ nghe được đủ thứ âm thanh trên cây cầu trong đêm. Chợ rau tan, cây cầu lại im lìm chào đón một ngày mới. Chỉ có điều nhiều hôm mẹ buồn ngủ quá đi thôi. Hai giờ rưỡi sáng mẹ đã phải dậy rồi, bán xong quay về đã hơn sáu giờ. Về đến nhà cơn buồn ngủ ập theo, không thể chịu được. Không thể chịu được nhưng rồi cũng phải chịu được thôi vì bao nhiêu việc đang chờ mẹ... Dẫu gì những đêm bán được cũng là những đêm may, chỉ sợ ế là rất nguy: hai chục bó rau lớn là thành tám mươi bó nhỏ chứ ít gì đâu. Nếu đêm ế là sáng mẹ phải gánh chạy rong mấy con hẻm bán cho bà con, chạy rã cả chân cả cẳng con ạ.

    Công việc bán rau muống đêm nghe nhàm chán thế, nhưng thật ra từ đó mẹ thấy rất nhiều điều hay. Những đêm khuya trên cây cầu ấy, mẹ “nhìn ngắm” được rất nhiều những mảnh đời từ nhiều nơi đổ về, hội tụ trên cầu, dưới cầu. Mỗi người có tính cách riêng, có công việc riêng, có cuộc đời riêng, hoàn cảnh riêng..., nhưng chung quy họ đều kiếm sống lương thiện, đều có tình, biết bảo bọc nhau, nương tựa nhau... Có những mảnh đời gây cảm xúc rất đậm trong mẹ và mẹ đã viết thành những câu chuyện. Có câu chuyện mẹ gọi tên là “Thầm thì chuyện kể trong đêm”. Mẹ chép lại ra đây con nhé.

    Thầm thì chuyện kể trong đêm

    Cô nàng là người đến sớm nhất ở chợ rau. Cô chở rau bằng một cái xe “đam” cũ mèm, đằng sau kéo thêm một cái thùng sắt, cái lồng sắt gắn bánh xe ấy chất đầy rau muống cao chất ngất. Nếu đi từ đằng sau sẽ chẳng thấy cô đâu. Chỉ nghe thấy tiếng xe rè rè của cô rất đặc biệt.

    Anh chàng cặp thuyền sát mé sông, thuyền anh ta chở cát. Chẳng có gì là can hệ nếu tiếng xe của cô không làm anh ta phải tỉnh giấc đúng vào giờ cô đến - lúc mà trời đất còn âm u.

    Vì trời âm u nên dưới thuyền anh ta tối thui tối mù, mà cô thì lại ngồi ngay chân cầu, dưới dàn đèn cao áp trong lấp lóa. Anh chàng thấy cái nón lá màu trắng lắc lư, thấp thoáng một bờ vai nhỏ nhắn, gọn gàng.

    Vì dưới thuyền tối thui nên anh chàng nhìn lên khoảng sáng rất rõ, bởi vậy anh ta tò mò. Tò mò vì không hiểu sao cái nón trắng lại cứ lắc lư như thế.

    Bây giờ thì anh ta lại càng tò mò tệ, vì cô nàng đã xăng xái đi xuống bờ sông, cầm theo một cái xô nhựa nhỏ. Anh chàng thụt vội đầu vào khoang lái vì sợ bị phát giác, nhưng mắt anh ta thì vẫn theo sát cô nàng. Chẳng thể nhìn thấy mặt cô, vì cô đã thay cái quai nón bằng một cái khăn mùi soa kín mít.

    Không biết có một người đang nhìn trộm, cô gái véo von hát nho nhỏ một mình, cô xắn cao quần lội ra xa bờ một chút. Ấy tính cô là thế, chỉ lấy một xô nước té cho xe rau tươi tắn, cô vẫn muốn lấy nước ở ngoài xa cho vừa trong vừa sạch.

    Thuyền cát im lìm với cái khoang lái tròn tròn y như tổ chim sẻ kia cũng đâu có liên quan tới cô?

    Cô lẩm nhẩm hát một đoạn chèo cổ có tự thuở nảo thuở nào. Từ ngày đặt chân vào thành phố xa lạ này để làm nghề bán rau, cô chẳng thấy ai hát điệu chèo ấy nữa. Cô í a cho quên bớt nỗi nhớ nhà và bớt lạnh.

    Chàng trai trong khoang thuyền... “chết đứng”. Anh ta chẳng nghe ai hát lạ thế bao giờ. Quê anh ta ở miền Tây. Những đêm lênh đênh sông nước của đời chở thuê, anh cũng hay nằm khểnh chân ngân nga vài câu trong bài Tình anh bán chiếu, còn bài ca của cô bán rau thì quả quyết là anh chưa được nghe bao giờ.

    Vì chưa nghe bao giờ nên anh ta quyết định... lên bờ. Quấn thêm một vài vòng xích sắt để chắc ăn là con thuyền đã được neo cho chặt, anh đợi cô đi khuất rồi mới dám lên...

    Lúc này trên cầu đã xuất hiện thêm hai người bán dạo trong đêm, một bà già bán xôi và một ông bán cà phê cóc. Quán cóc di động này thật là đơn giản: hai cái ghế nhỏ xíu, một cái bàn gỗ gấp xếp. Thế là đã có chỗ hợp pháp cho anh chàng dưới thuyền có cớ ngồi ngắm cô bán rau.

    Thì ra cô lắc lư cái đầu là vì cô đang san rau ra từng bó nhỏ. Cô bó từng bó gọn gàng, nhặt nhạnh lá sâu, xếp có lớp có lang để tí nữa giao cho mấy chị bạn hàng theo từng chục 12, 14.

    Tay cô thon thả dịu dàng, cái đầu thì đánh nhịp. Anh chàng quả quyết trong lòng rằng tất cả những bà bán hoa ở chợ Bến Thành cũng không thể nào có bàn tay khéo léo như của cô hàng rau ở chân cầu này được.

    Dần dà, anh ta bỏ xa cái bàn gấp xếp để tiến gần đến cô nàng bán rau. Bàn tay to bè, xấu xí của anh lóng ngóng trên những cọng rau non tơ trông thật là tội nghiệp. Cô hàng rau bật cười.

    Cô gái cười thật tươi, nón lá bỏ ra rồi, anh lái thuyền khẳng định là cô đẹp: nước da mai mái, răng khểnh có duyên, má lúm đồng tiền. Kiểu này thôi rồi: anh chết chắc! Mà anh “chết” thật, nên đã gần một năm nay anh chàng đã chọn luôn khúc sông dưới chân cầu, nơi có chợ rau họp đêm làm bến đỗ.

    Cô bán rau đã quen tính quen nết anh chàng, sao vẫn chưa chịu xuống thuyền? Cô sợ thuyền tròng trành, cô sợ đời lênh đênh. Dù trong tận nơi trái tim cô biếtanh lái thuyền cũng tốt.

    Họ rù rì bàn định với nhau, bàn định thế này: rằng cô sẽ bán xe “đam” cho một người quen, xuống thuyền, nhưng vẫn giữ nghề bán rau. Còn anh chàng sẽ giữ con thuyền nhưng chia tay với nghề chở cát. Đêm đêm họ sẽ chở rau bằng thuyền, anh sẽ gánh rau lên bờ cho cô rồi hai đứa cùng ngồi bó lại.

    Chuyện lọt tai hai người “hàng xóm”. Bà bán xôi khen tốt, ông cà phê cóc cũng gật gù. Thế mà sao cô vẫn còn chần chừ, vẫn chưa chịu xuống thuyền cùng anh lái. Hóa ra cô sợ, sợ trời tối, sơ sẩy sẽ trượt chân. Đời người ta lỡ sẩy chân một lần... Eo ôi, cô sợ lắm!

    Ông cà phê cóc cho mượn cây đèn lọ mực. Bà bán xôi gói thêm một gói xôi thơm, bà giục: “Con cứ theo nó xuống thăm thuyền, rau cỏ hôm nay để tao giao mối hộ!”.

    Chuyện tôi kể cho các bạn nghe là có thật... gần 100%, bởi vì tôi chính là chứng nhân, tôi là... cây cầu ở trong truyện này đấy!

    Bây giờ thì tơ mơ nào cũng vậy, hai người hì hụi chuyển rau từ thuyền lên. Cô hàng bán rau vẫn rất có duyên, còn anh chàng lái thuyền thì có vẻ hơi chững chạc. Chững chạc cũng phải thôi! Vì ở dưới khoang thuyền kia: nằm cuộn tròn trong chăn ấm êm có một thằng bé con lên hai đang say ngủ.

    Chú thích: tôi - cây cầu ximăng lạnh lẽo, đã rung rinh trước câu chuyện đẹp đẽ này.

    Tôi đã thầm thì kể lại cho một người hay lãng du trong đêm nghe và nhờ người ta viết lại câu chuyện gửi cho các bạn, người ấy nghe xong cứ gật gù tâm đắc: hạnh phúc ở quanh ta đâu phải chuyện hoang đường

    Hội thấy không, nếu mà con học quan sát, con sẽ thấy có vô vàn cái đẹp ở trong đời, kể cả ở những nơi và ở những con người bình thường nhất.

    ... Những chút hồn buồn trong lá rụng

    Bị nhàu ai tưởng dưới trăm chân.

    Bông hoa rút cánh rơi không tiếng.

    Chẳng hái mà hoa cũng hết dần...

    (Xuân Diệu)
    Hãy sống hết mình cho giây phút hiện tại.
    Hãy mang niềm vui đến cho những người xung quanh bạn.
    Hãy chia sẻ một chút may mắn của bạn cho những người khó khăn hơn.
    Hãy làm như vậy, bạn nhé!

  10. #10

    Kỳ 6 (tt)

    Chiều nay ta mới dọn xong nhà. Giã từ đường Lê Hoàng Phái, giã từ chùa Kỳ Quang. Ta dọn đến một ngôi nhà khác. Cũng chẳng quan trọng gì nữa. Nền nhà mẹ đã cho cẩn lại trắng tinh, con cứ lần ghế lần tường mà đi cho thoải mái. Mẹ đã nói rồi: những vật hữu hình ở thế gian này có quan trọng chi đâu. Nhà mới tuy nhỏ nhưng có một gác con con và một ban-công xinh xắn đủ chỗ cho mẹ con ta ngồi ngắm trăng sao trong đêm tối.

    Ánh sáng đã lùi dần và mọi thứ rơi vào đêm tĩnh lặng. Mẹ ngồi một mình trên chiếc ban công ấy. Bố rón rén đi lên, mang theo một... gói mì tôm.

    Bố biết mẹ đang buồn, mẹ đang uống rượu. Ôi con trai nhỏ ơi! Một lần nữa mẹ lại uống rượu, vì mẹ đang buồn, buồn lắm! Mẹ đã từng viết thư nói với một người bạn rằng: “Bạn có tin không? Đời tôi chỉ là những mảnh tối tăm ghép lại...”.

    Khổ nỗi những mảnh tối tăm ấy không phải là tại mẹ, do mẹ mà ra. Có một nỗi đau đang đeo đẳng mẹ cả tháng nay, khi mẹ làm thủ tục bán căn nhà ở Lê Hoàng Phái. Chuyện giấy tờ là tốn kém, nhiêu khê, mẹ biết, nên không ngại, người sao ta vậy thôi mà.

    Nhưng lần này thì khác. Hôm ấy mẹ vẫn tớixếp hàng ở 19 Quang Trung, giấy hẹn đã trễ mấy lần rồi. Sao họ lại cứ đuổi mẹ về văn phòng Quản lý đô thị ở đường Lê Quang Định? Đó là nơi xuất phát của những bản vẽ bản đồ. Mấy thứ này cứ gọi là sai một li là đi mấy dặm. Họ là cơ quan kỹ thuật, họ vẽ sai thì họ sửa, chứ mình có tội gì? Ấy thế mà mẹ của con trở thành có tội! Đại loại có những câu hỏi mà họ “tạt” vào mẹ hết sức ấn tượng: Chẳng hạn: “Chồng bà đâu mà thấy bà đi làm giấy tờ hoài vậy?” (ý là họ chửi khéo mình đã bán nhà mấy bận rồi đây!). Kệ! Mẹ chỉ cần hỏi giấy của mẹ thôi. Họ chỉ quanh một hồi, rồi bắt mẹ phải lên trình với một ông sếp tên là D.C.H.

    Mẹ lò dò lên lầu một và gõ cửa. Ông ta nhìn mẹ một hồi như con cú vọ... Hoạnh họe đủ điều rồi lại tống mẹ ngược về... 19 Quang Trung.

    Về đó thì về, ăn nhằm gì! Và tại đây mẹ nhận được một lệnh hết sức hãi hùng... Phải để cho họ... xét đồ rồi hồ sơ mới được giải quyết (?!). Tại làm sao lại vậy chứ?

    Theo họ, khi mẹ rời khỏi cơ quan ở Lê Quang Định thì họ bị mất một món đồ, là một cái máy tính hay gì đó... Ôi trời ơi đất hỡi! Dưới sự “giám sát” của một “quan bà” tên là Nam, mẹ phải... tốc vạt áo, vén ống quần, đổ hết cả đồ đạc cá nhân trong giỏ ra cho họ... xét.

    Ôi! Nhục ơi là nhục! Mẹ muốn lột cả áo quần mà đập vào mặt thế gian, rồi chết luôn ngay ở đó cũng được! Này hỡi cái ông Nguyễn Du đáng kính ơi... Ông đã từng kêu lên: “Thịt da ai chẳng là người”. Nhưng đấy là ngày xưa! Còn bây giờ, đây là bây giờ hẳn hoi ông ạ!

    Mẹ của con đứng im và nhợt nhạt như một xác chết. Mẹ muốn gào, muốn khóc, nhưng không thể được, vì mẹ nghĩ đến các con... Mẹ phải nộp được hồ sơ, phải bán được nhà mà sống!

    Mẹ nuốt cái căm cái hận vào lòng. Mẹ lảo đảo gọi xe ôm chở mẹ về nhà cấp tốc. Một lần nữa mẹ muốn đổ gục, không phải vì bệnh tật mà vì trái tim đã bị đâm xuyên bởi một lưỡi kiếm sắc nhọn vô hình. Đó là sự tàn ác, khốn nạn của con người. Mẹ tưởng như lòng mình đã chết...

    (Cho đến mãi tháng 3 năm 2007 vừa rồi, mẹ thấy báo chí, đài truyền hình đăng tải rình rang: cả một bầy đàn bọn chúng đã đứng trước vành móng ngựa. Nhân nào thì quả đó thôi, trái tim mẹ không hề gợn lên một chút nào sự thương cảm bọn người xấu xa đó).

    Trở lại cái đêm tăm tối ấy: mẹ uống rượu đến mềm người. Mẹ nói với bố: “Em nộp đơn tố cáo chúng nó rồi...”. “Để được gì? - Bố thở dài - Mình còn con cái, em à. Vả lại phủ bênh phủ, huyện bênh huyện... Cùng lắm lại là một cái thư xin lỗi mà thôi”.

    Có lẽ họ cũng ngại, ngại cái liều của một người đàn bà bị xô vào cùng quẫn. Đến như ngày xưa chị Dậu bị dồn thì cũng xô té nhào và đập cho thằng cha Phó Lý một trận đấy thôi. Mẹ cũng muốn liều rồi, vì sức chịu đựng của một con người là có giới hạn. Mẹ lạnh lẽo nhìn lên trời và nói với bố con như vậy.

    Đúng như bố con nói! Họ gửi đến cho chúng ta một cái thư xin lỗi với một giọng lịch sự và nhã nhặn, có chữ ký của ông trưởng phòng và dấu đỏ hẳn hoi.

    Mẹ lướt qua một lượt rồi vò ném tọt vào thùng rác. Mẹ chẳng thể tin cái gọi là công lý, lẽ phải của họ nữa đâu. Mẹ sẽ tự bảo vệ các con và gia đình mình; mẹ sẽ thiết lập một thiên đường ngay ở trong nhà cho các con của mẹ. Còn đối với những con người xấu xa ngoài đời ấy, mẹ sẽ đóng cửa lòng mình lại. Nào ai đâu muốn lòng mình chai đá làm chi. Trái tim thịt máu có mềm mại, nồng nàn đến đâu, bị chà đạp nhiều rồi cũng trở thành chai đá. Rõ là khổ. Mẹ khổ cũng đành, mẹ chỉ mong các con của mẹ đừng phải khổ, phải đau...

    Ông trời vốn có đức hiếu sinh, ông sẽ chẳng lấy hết của ai đến tận cùng tận kiệt bao giờ.

    Cửa lớn không mở thì ta đi cửa hẹp. Sau một vài phen hú vía kinh hoàng của những ông bà quan ngồi ở cửa quyền cao chức trọng, mẹ lại nghĩ ra kế khác.

    Hóa ra đâu cứ phải là có giấy tờ mới bán được nhà! Nơi những vùng ven có rất nhiều người dân nghèo khó. Họ mua bán với nhau bằng chữ tín, ít tiền họ đi tìm những căn nhà nho nhỏ ở những con hẻm quanh co, hoặc rìa những... nghĩa địa. Chỉ cần khu đó không bị... giải tỏa kẻo lại mất trắng ít tài sản còm cõi chắt chiu, và có thêm một người tốt chịu làm chứng là có thể mua bán với nhau được.

    Vậy là mình có đường sống rồi con! Mẹ xục xạo rúc rích ở mọi con hẻm để tìm những căn nhà như vậy. Thế là chúng ta lại có tiền, và luôn được ở... nhà mới, thích ghê! Đ